V̀ TUỔI THƠ VIETNAM - SCVNLIVE -  FORUMS
HOME | FORUM | MUSIC | SPORTS | NEWS | UPLOAD PHOTOS |  CONTACT US
 

Go Back   V̀ TUỔI THƠ VIETNAM - SCVNLIVE - FORUMS > C - SCVNLIVE - DIỄN ĐÀN TỔNG HỢP / SCVNLIVE - GENERAL FORUMS > III - "Kinh" ..... tế thị trường / Market Economy > Tiết Kiệm & Đầu Tư / Economy & Investments
Register FAQ VB Image Host Calendar Mark Forums Read


News And Announcements

Nội quy Forum Scvnlive

Hướng dẫn Đăng Kư vào website Scvnlive

Hướng dẫn cách post h́nh ảnh trên forum của SCVNLive

Đóng góp & Tài trợ cho SCVNLive : gởi về đâu ?

Đóng góp, tài trợ, thắc mắc về SCVNLive vui ḷng gửi mail: scvn.live@yahoo.com


Reply
 
Thread Tools Display Modes
  #1  
Old 07-13-2009
vitieubao11 vitieubao11 is offline
SCVNLive
Senior Member Super Moderator
 
Join Date: May 2007
Posts: 2,634
Thanks: 1,673
Thanked 846 Times in 382 Posts
vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6
Default Những con hổ bị thuần hóa, những con rồng kiệt sức

(TuanVietNam) - Giải thích nguyên nhân sâu xa dẫn tới t́nh trạng sa sút kinh tế hiện nay ở châu Á là v́ mô h́nh tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu, tạp chí Ngoại giao (Foreign Affairs) trên số báo ra tháng 7-8/2009 đă đưa ra một số giải pháp định hướng cho châu lục này thoát khỏi suy thoái. Tuần Việt Nam xin đăng lần lượt 3 kỳ bài viết thú vị này.


Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đă xé tan điều kỳ diệu của kinh tế châu Á.
Thay v́ nổi lên như một gă khổng lồ Goliah trên trường quốc tế, khu vực này
đang trải qua thời kỳ khó khăn.


Cốt lơi các vấn đề của châu Á là ở cấu trúc


Trong số những điều chưa từng thấy, xảy ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, có lẽ điều ngạc nhiên và đáng lo ngại nhất đă đến vào đầu năm 2009: kim ngạch giao thương qua đường biển giữa miền Nam Trung Quốc với châu Âu đă tạm thời rớt xuống con số 0 USD.

Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng ở phương Tây giảm và xuất khẩu thu hẹp, các lái buôn hiện nay bỏ cả cước phí vận tải và chỉ đ̣i một mức chi phí rất nhỏ cho việc vận chuyển hàng hóa. Vào tháng Tư, hàng trăm con tàu trống rỗng, tương đương hơn 10% khả năng chuyên chở của ngành hàng hải thế giới, đă phải nhả neo một cách lười biếng trên các vùng biển châu Á. Sau khi giao thương tại cảng Pusan của Hàn Quốc, một trong những cảng biển hoạt động đông đúc nhất thế giới, sụt giảm 40% vào tháng Ba, cảng này đă hết chỗ để neo đậu 32.000 công-ten-nơ không sử dụng đang chồng chất.

Sự sụt giảm trong ngành hàng hải không chỉ là một bằng chứng cho thấy những khó khăn mà nền kinh tế thế giới đang phải đương đầu; nó cũng cho thấy rơ mức độ hậu quả mà châu Á phải gánh chịu do suy thoái toàn cầu.

Nhật Bản đă kết thúc năm 2008 với việc lần đầu tiên trong gần 30 năm qua bị thâm hụt thương mại hàng năm. Mùa xuân vừa qua, sản xuất công nghiệp của đất nước Mặt trời mọc đă giảm xuống con số của những năm 1980. Cựu Thủ tướng Singapore Lư Quang Diệu đă cảnh báo rằng nền kinh tế độc lập của nước này có thể giảm tới 10% trong năm 2009, mức giảm mạnh nhất kể từ khi nước này độc lập vào năm 1965.

Phải thừa nhận rằng giao thương đang bắt đầu được cải thiện, và các chương tŕnh kích thích kinh tế của chính phủ đă tạo ra một “ánh sáng cuối đường hầm”. Song các vấn đề cơ bản vẫn chưa được giải quyết. Ngay cả Trung Quốc dù đang trên đường đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 6-8% trong năm nay nhưng con số này vẫn cho thấy một sự sụt giảm mạnh so với mức 13% mà họ đă đạt được năm 2007. Trên toàn khu vực, các nền kinh tế mà mới chỉ một năm trước c̣n kỷ niệm việc liên tục đạt được các thành quả lớn th́ nay đă phải lảng tránh hoặc thay đổi hoàn toàn.


Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đă xé tan
điều kỳ diệu của kinh tế châu Á.



Điều này lẽ ra đă không xảy đến. Châu Á đă từng chống lại được những cơn điên loạn của thị trường tài chính trong những năm gần đây. Các thể chế tài chính trong khu vực đă tránh được hầu hết các tài sản xấu, vốn gây ra trục trặc trong ngành ngân hàng ở Mỹ và châu Âu, các chính phủ đă bảo vệ sự toàn vẹn của ngành tài chính, các tập đoàn đảm bảo được những cuốn sổ quyết toán cân đối, và các cá nhân th́ tiết kiệm chứ không chi tiêu bừa băi.

Nhưng kinh nghiệm trên đă chống lại khu vực này. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 thực chất là một cuộc khủng hoảng nợ, và sự bay hơi của các nguồn vốn nước ngoài đă làm hại cho một số nền kinh tế.

Phải nhớ rằng, khi thương mại phát triển, hầu hết các nước châu Á đă lót nệm êm cho ḿnh bằng việc xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và tích lũy thặng dư cán cân thanh toán rất lớn. Họ thúc đẩy mở cửa ngoại thương (dù nhiều nước vẫn tương đối khép kín so với phương Tây). Tóm lại, các quốc gia châu Á đă làm tất cả những ǵ họ cho là đúng – kể cả việc lắng nghe các bài phát biểu của các quan chức phương Tây đến thăm khu vực – song, họ vẫn bị tác động nặng nề hơn các nước phương Tây.


Trớ trêu thay, nguyên nhân dẫn tới nỗi thất vọng hiện nay của châu Á chính là mô h́nh phát triển, từng là lực đẩy cho thành công của họ từ trước tới nay: sự phụ thuộc quá lớn vào xuất khẩu. Bằng quyết định gắn các toa tàu kinh tế của ḿnh vào lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa, các lănh đạo châu Á đă tự làm cho ḿnh dễ bị tổn thương hơn trước sự tụt dốc của tiêu dùng ở phương Tây.

Tăng trưởng c̣n dựa trên các nền tảng xă hội và chính trị yếu, từ việc thiếu đầu tư cho giáo dục công, y tế, và các dịch vụ xă hội, đến khả năng điều hành kém và một hệ thống luật pháp không đủ mạnh. Các vấn đề này đă không được các lănh đạo chính trị và doanh nghiệp để tâm tới, họ chỉ lo kiếm lời nhiều nhất từ sự tăng trưởng kinh tế nhanh, trong khi dân chúng hầu như không phản ứng ǵ bởi thu nhập của họ tăng đều năm này qua năm khác.

Cho đến cuối năm ngoái, người ta c̣n dễ tin vào một “kỷ nguyên châu Á”, với các tỷ lệ tăng trưởng trên toàn khu vực đều vượt qua 8% và các quốc gia châu Á tắm ḿnh trong uy tín chính trị quốc tế mới t́m thấy. V́ thương mại nội khu vực tăng trưởng, người ta tin rằng các nền kinh tế châu Á hiện đă tách ra khỏi phương Tây để trở thành một động cơ mới của tăng trưởng toàn cầu.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đă xé tan điều kỳ diệu của kinh tế châu Á. Thay v́ nổi lên như một gă khổng lồ Goliah trên trường quốc tế, khu vực này đang trải qua thời kỳ khó khăn. Thời hoàng kim của tiêu dùng phương Tây chắc sẽ không sớm trở lại, vượt quá sức chịu đựng của ngành công nghiệp, gây khó khăn kinh tế cho các doanh nghiệp, và làm tăng thất nghiệp trên toàn châu Á.

Cốt lơi các vấn đề của châu Á là ở cấu trúc, chứ không phải là mang tính chu kỳ. Các chương tŕnh kích thích kinh tế của chính phủ, dù rất cần thiết, song cũng chủ yếu tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn, trong một môi trường mà chất lượng tiêu dùng quan trọng hơn số lượng. Mô h́nh kinh doanh của châu Á đang dần thui chột, và chưa biết cái ǵ sẽ thay thế vào đó.

Nếu các lănh đạo châu Á không thể tiến hành các cải cách kinh tế cần thiết – giảm sự bất cân bằng trong cán cân thương mại, thúc đẩy tiêu dùng nội địa, và phát triển các mạng lưới an sinh xă hội – th́ cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ c̣n gây ra nhiều vấn đề lớn: một thế hệ vừa mới thoát nghèo sẽ có thể lại trượt chân vào cảnh nghèo đói, và một sự suy thoái sâu có thể làm gây ra hỗn loạn về chính trị và xă hội.

Kỷ nguyên của tăng trưởng dựa vào xuất khẩu đă lỗi thời


Để hiểu tại sao các nền kinh tế châu Á coi xuất khẩu là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, cần trở lại Nhật Bản thời hậu chiến tranh thế giới thứ hai. Nước này đă bị tàn phá, và nền công nghiệp của họ rơi vào cảnh hỗn loạn.

V́ có ít tài nguyên thiên nhiên, Nhật Bản cần nhập nguyên liệu đầu vào, nhưng lại thiếu ngoại tệ để thực hiện việc này. Xuất khẩu hàng hóa, đầu tiên là hàng công nghiệp, như dệt may, và sau này là các nguyên liệu cho công nghiệp nặng, như thép và hóa chất, được đặt lên hàng đầu. Cả chu tŕnh này tự củng cố cho nó: nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu cho phép Nhật nhập về các công nghệ mới và trở nên cạnh tranh hơn, mở rộng sang các sản phẩm đầu cuối chất lượng cao. Sau thép và thủy tinh, xe hơi và đài phát thanh.

Kinh tế trong nước của Nhật rất hạn chế, và xuất khẩu hứa hẹn tăng trưởng. Tăng tiêu dùng trong nước cần có thời gian và khá tốn kém; trong khi tập trung vào các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu cho phép một nước nghèo nhanh chóng tăng trưởng và kiếm tiền dựa trên lực lượng lao động rẻ. Trong thời gian chiếm đóng Nhật sau chiến tranh, Mỹ đă phát triển mô h́nh này bằng cách mua các sản phẩm của Nhật dưới dạng trợ giúp ngầm. Vai tṛ của các nhà hoạch định chính sách nhà nước, vốn rất cần để tổ chức sản lượng sau chiến tranh, được cất giữ như của quư và trở thành một đặc trưng chủ đạo của hệ thống.

Mô h́nh trên đă đạt được thành công lớn. Nền kinh tế Nhật Bản đă bất ngờ tăng mạnh v́ xuất khẩu tăng gấp 4 lần trong 10 năm từ 1955-1965, và gấp 7 lần trong thập kỷ sau đó. Nhật đă sản xuất khoảng 50.000 chiếc xe hơi trong năm 1953 và không xuất khẩu một chiếc nào.

Đến cuối thập kỷ 1950, họ đă sản xuất 500.000 chiếc, gần 10% trong số này được xuất ra nước ngoài. Các quốc gia khác trong khu vực đă ghi nhận. Chương tŕnh phát triển của Nhật Bản trở thành h́nh mẫu cho “các con hổ” châu Á: Hồng Công, Singpapore, Hàn Quốc và Đài Loan trong những năm 1960 và 1970.

Dưới thời Tổng thống Phát Chính Hy (1917-1979), Bộ Thương mại Hàn Quốc thường cắt điện của các công ty không đạt các chỉ tiêu xuất khẩu. Cụm từ “ngỗng bay” được các chuyên gia kinh tế dùng để mô tả các nước đă bỏ rơi các hoạt động có giá trị thấp để hướng tới các hoạt động công phu hơn. Bầy ngỗng sau này bao gồm Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, và cả Trung Quốc.

Đương nhiên, mô h́nh ở từng nước cũng khác nhau, từ thiết quân luật ở Đài Loan và Hàn Quốc, đến sự kiểm soát nghiêm ngặt ở Singapore, hay thị trường tự do ở Hồng Công. Nhưng xuất khẩu vẫn là quả trứng vàng của những con ngỗng này.

Mô h́nh tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nói trên đă được phương Tây tích cực khuyến khích. Năm 1975, Robert McNamara, khi đó là Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), đă kêu gọi các lănh đạo châu Á “kéo các doanh nghiệp chế biến của nước ḿnh khỏi các thị trường nhỏ, có thể thay thế bằng nhập khẩu, để hướng tới các cơ hội lớn hơn bằng việc thúc đẩy xuất khẩu”. Hơn ba thập kỷ trôi qua, tác động của chính sách này rất đáng kể.

Suy thoái kinh tế không phải là nguyên nhân dẫn tới điều này; nó chỉ đơn thuần làm vấn đề đă tồn tại trở nên trầm trọng hơn v́ sự yếu kém của các nền tảng kinh tế, chính trị và xă hội mà mô h́nh này được xây dựng trên đó.

Biến đổi kinh tế của châu Á được coi là một trong những sự phát triển mang tính hiện tượng nhất trong thế kỷ 20. Năm 1960, GDP của Hàn Quốc chỉ bằng của Sudan, và của Đài Loan chỉ tương đương với ở Congo khi chưa tách ra độc lập khỏi Bỉ. Đến những năm 1990, cả hai nền kinh tế này của châu Á đă tăng mức sống của người dân lên ngang ngửa với ở phương Tây. Hơn 400 triệu người đă thoát nghèo ở Trung Quốc chỉ trong thời gian kể từ khi nước này bắt đầu tự do hóa kinh tế vào năm 1980.

Nhưng những lời kêu gọi tăng tiêu dùng nội địa đă không được ai để ư tới. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 đă làm yếu đi giá trị đồng tiền của một số nước, khiến hàng hóa châu Á trở nên rẻ nhất thế giới. Trong thập kỷ vừa qua, xuất khẩu của khu vực này tăng từ 37% lên 47% GDP. Người ta nói rằng các giải pháp cho một cuộc khủng hoảng tài chính sẽ gieo hạt cho thời kỳ sau đó. Tại châu Á, sự bùng nổ xuất khẩu vốn làm tăng thặng dư cán cân thanh toán của nhiều nước cũng góp phần làm giảm lăi suất, gây ra lạm phát, và tạo bong bóng giá bất động sản, cuối cùng làm nền kinh tế toàn cầu sụp đổ.

Bằng việc thúc đẩy xuất khẩu, các nước châu Á đă đơn giản thay thế sự nhờ cậy vào vốn nước ngoài bằng một sự phụ thuộc vào cầu nước ngoài. Tại Hồng Công, Malaysia và Singapore – v́ tỷ trọng tái xuất khẩu cao – giá trị xuất khẩu đă tương đương hoặc vượt quá Tổng thu nhập quốc dân (GNR) trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay xảy ra vào năm 2007.

Tại Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam, xuất khẩu chiếm tới 60% Tổng sản phẩm quốc dân (GNP), c̣n ở Trung Quốc và Hàn Quốc là 40%. Nếu tính xuất khẩu ṛng (sau khi trừ đi nhập khẩu), th́ sự đóng góp của xuất khẩu cho GNR khiêm tốn hơn, song xuất khẩu vẫn mang tính quyết định cho thành công của kinh tế châu Á.

Trong những năm gần đây trước khi xảy ra khủng hoảng, gần một nửa các giao dịch thương mại ở châu Á vẫn diễn ra giữa các nước trong khu vực với nhau, khiến người ta càng tin rằng các nền kinh tế châu Á đă trở nên rất độc lập với phương Tây. Tuy nhiên, khoảng 60% xuất khẩu trong khu vực là các sản phẩm trung gian, để cung cấp cho các dây truyền sản xuất thường bắt đầu từ Trung Quốc và kết thúc ở phương Tây. Như vậy, khi người tiêu dùng Mỹ “loạng choạng” th́ các nhà sản xuất châu Á “quỵ ngă”.

Kỷ nguyên của tăng trưởng dựa vào xuất khẩu đă lỗi thời. Tiêu dùng của Mỹ đă tăng hơn 70% GNP của nước này từ năm 2005-2008, và tiết kiệm hộ gia đ́nh ở Mỹ đă giảm dưới mức không – những con số bất thường mang tính lịch sử. Cuộc khủng hoảng kinh tế đă đốt cháy 2/5 giá trị chứng khoán Mỹ và làm giảm căn bản giá nhà đất ở đây. V́ người Mỹ bước vào một thời kỳ tiết kiệm để lập lại sự cân bằng thu chi hộ gia đ́nh, họ sẽ mua ít hơn mức châu Á sản xuất ra. Điều từng khiến cho châu Á tiến xa trong thế kỷ 20 có thể không giúp đưa khu vực này tiến xa hơn trong thế kỷ 21.

Thật khó để bắt đầu cái được tiên đoán là “kỷ nguyên châu Á”. Sự công nghiệp hóa thời hậu chiến của châu lục này đă phản bác lại một đặc tính của chủ nghĩa quốc hữu hóa và tự cung tự cấp. Nhưng mô h́nh dựa vào xuất khẩu mà các quốc gia châu Á áp dụng thật trớ trêu đă khiến họ trở nên phụ thuộc hơn bao giờ hết vào ư thích tức thời của phương Tây.

Giờ đây, mô h́nh tăng trưởng như vậy đang bị triệt tiêu. Suy thoái kinh tế không phải là nguyên nhân dẫn tới điều này; nó chỉ đơn thuần làm vấn đề đă tồn tại trở nên trầm trọng hơn v́ sự yếu kém của các nền tảng kinh tế, chính trị và xă hội mà mô h́nh này được xây dựng trên đó.

Quốc Thái
__________________
Life is short, make it fun.
Reply With Quote
  #2  
Old 07-13-2009
vitieubao11 vitieubao11 is offline
SCVNLive
Senior Member Super Moderator
 
Join Date: May 2007
Posts: 2,634
Thanks: 1,673
Thanked 846 Times in 382 Posts
vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6 vitieubao11 Level 6
Default Re: Những con hổ bị thuần hóa, những con rồng kiệt sức

Phần 2 bài viết của Brian P. Klein trên tạp chí Ngoại giao (Foreign Affairs) số báo ra tháng 7-8/2009 cho thấy: Cường điệu hóa quá mức một lĩnh vực cũng làm thay đổi động cơ của các doanh nhân, chính trị gia và dân chúng theo hướng tiêu cực.

Tiêu dùng ngầm

Đầu tư không đúng dẫn tới phát triển tài sản thực tế một cách mù quáng bất chấp nhu cầu thực tế (không kể đầu cơ) rất yếu.

Dựa quá nhiều vào xuất khẩu khiến một quốc gia trở nên dễ tổn thương hơn trước sự suy sụp kinh tế ở một nước khác. Hơn nữa, một cán cân thanh toán cân bằng là cần thiết để sự mất giá của tài sản này được bù lại bằng sự tăng giá của một tài sản khác. Cường điệu hóa quá mức một lĩnh vực cũng làm thay đổi động cơ của các doanh nhân, chính trị gia và dân chúng theo hướng tiêu cực.

Kinh nghiệm của Campuchia làm rơ điều này. Trước cuộc khủng hoảng hiện nay, nền kinh tế Campuchia tăng trưởng mạnh nhờ xuất khẩu quần áo giá rẻ, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, đa số xuất sang Mỹ. Nhưng khi nền kinh tế toàn cầu gặp khó khăn, các lệnh mua “bốc hơi”. Từ tháng 9/2008 đến đầu năm 2009, khoảng 50.000 công nhân may quần áo, tức là 17% tổng lao động, đă mất việc làm. Nếu năm 2007 tăng trưởng kinh tế nước này đạt 10%, th́ năm nay, WB ước đoán sẽ chỉ đạt 1% - điều sẽ dẫn tới t́nh trạng nghèo đói gia tăng trong năm 2009.

Tập trung thái quá vào xuất khẩu cũng bóp méo nền kinh tế. Đầu tư của tập thể, chi tiêu của chính phủ, và đầu tư trực tiếp nước ngoài đều đổ vào lĩnh vực xuất khẩu, trả giá bằng nền kinh tế nội địa mênh mông. Hàng hóa xă hội, như giáo dục công, y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xă hội, thường không được quan tâm đúng mức.

Điều này giải thích tại sao các nền kinh tế châu Á tiết kiệm nhiều như vậy: họ cần “tự đảm bảo cho ḿnh” và tự đặt lên vai ḿnh những gánh nặng kinh tế này. Trên toàn khu vực, một hộ gia đ́nh điển h́nh tiết kiệm từ 10-30% thu nhập hàng năm của họ. Tiết kiệm quốc gia (bao gồm cả tiết kiệm của chính phủ và tập thể) tương đương một nửa GDP của Trung Quốc, Malaysia và Singapore. Dù cần kiệm là một thói quen thường ngày, nhưng trong trường hợp này nó lại là một thói quen xấu, bởi nó rút tiền tệ khỏi tiêu dùng, nơi mà những tờ giấy bạc này có thể được sử dụng để cải thiện mức sống của người dân và toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

Cầu trong nước ở châu Á c̣n bị ḱm lại bởi một số nhân tố khác, bao gồm t́nh trạng luôn thiếu nguồn tài nguyên. Đầu tư không đúng dẫn tới phát triển tài sản thực tế một cách mù quáng bất chấp nhu cầu thực tế (không kể đầu cơ) rất yếu. Việc xây dựng nhà mới vẫn tiếp tục ở Bắc Kinh và Thượng Hải bất chấp t́nh trạng nhà bỏ không rất nhiều. Các ngân hàng nh́n chung ủng hộ các dự án rộng lớn và những dự án của chính phủ, vốn được đánh giá là nguy cơ vỡ nợ thấp và có thể cung cấp các khoản phụ thêm “ngon” hơn. Đây là một vấn đề đặc biệt, khi biết rằng các công ty nhỏ thường dùng vốn hiệu quả hơn, sáng tạo hơn và phân tán tài sản rộng răi hơn.


Tương tự, việc cho vay cũng hướng một cách bất cân đối tới các lợi ích chính trị và kinh tế mạnh, dù đó là các công ty nhà nước ở Trung Quốc hay các công ty gia đ́nh và tập đoàn lớn ở Hồng Công, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia và Hàn Quốc. Tại Trung Quốc, các công ty vừa và nhỏ chiếm 70% GDP nhưng chỉ góp 20% vào nguồn lực tài chính quốc gia - xu hướng không thể giải thích đơn giản là v́ nguồn vốn dồi dào của các công ty lớn.

Sự ưu tiên cho các dự án lớn và công ty lớn đă đặt quyền lực vào tay giới chóp bu. Ngay trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990, 15 gia đ́nh giàu có nhất Hồng Công kiểm soát 84% GDP của ḥn đảo này; tại Malaysia, con số này là 76%; tại Singapore và Philippines là gần 50%. Dù nhiều thay đổi đă xảy ra từ đó tới nay, song các triều đại gia đ́nh từ Hồng Công đến New Delhi vẫn có tầm ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế nước họ. Samsung, do gia đ́nh nhà Lee kiểm soát, hiện chiếm gần 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc.

Sự tập trung tài sản và quyền lực này đă góp phần làm suy yếu sự lănh đạo của tập thể trên toàn khu vực. Tại Nhật Bản, nhiều ông chủ đă tự cao tự đại mà không nếm xỉa cả các cổ đông trong và ngoài nước. Tại Hàn Quốc, nhiều ủy viên ban quản trị bị buộc tội biển thủ, hối lộ hoặc trốn thuế nhưng vẫn đường hoàng trở lại công ty v́ tầm quan trọng của cá nhân họ đối với nền kinh tế. Sự đóng cửa trong năm nay của công ty Satyam Computer Services, một công ty công nghệ thông tin của Ấn Độ đă gian lận sổ sách nhiều năm liền, đă khiến cộng đồng doanh nhân Ấn Độ phải bắt đầu xem xét một cách nghiêm túc việc quản lư công ty. Dù các hành động phi pháp không chỉ xảy ra ở châu Á – Mỹ đă phải chứng kiến sự tan ră của một số tập đoàn khổng lồ - song trách nhiệm giải tŕnh vẫn thiếu.

V́ vốn quá tập trung nên tăng trưởng của tầng lớp trung lưu châu Á bị ḱm hăm. Dù khó tin được vào mắt ḿnh khi đến thăm các thành phố lớn trong khu vực – mới được phủ bằng những con phố xa hoa, những quán ba đắt tiền, và những chiếc xe hơi đời mới – nhưng trên thực tế tiêu dùng tư nhân và tiền lương công nhân tỷ lệ thuận với sự sụt giảm của GDP toàn khu vực hai thập kỷ qua, dù nó đă từng tăng tuyệt đối. Tại nhiều quốc gia, người lao động không thể mua chính cái mà họ sản xuất ra, tiêu dùng nội địa hoàn toàn không thể đuổi kịp xuất khẩu trong thời kỳ ế ẩm sau khi đă suy giảm.

Tại Trung Quốc, dù xuất khẩu và thu nhập tập thể tăng trong những năm 1997-2007, tiền lương công nhân trên thực tế vẫn giảm, từ 53% xuống c̣n 43% GDP. Dù người dân các nước châu Á hiện nay sống tốt hơn trước đây rất nhiều nhưng sự thịnh vượng của họ vẫn không đồng nhịp với mức tăng trưởng xung quanh họ. Các tác động của điều này có thể nh́n thấy được trong hành vi tiêu dùng. Trong thập kỷ vừa qua, khi các nền kinh tế châu Á tăng trưởng, tiêu dùng nội địa gần như vẫn tương đương hoặc trên thực tế c̣n tương đối thấp hơn GDP. Tại Trung Quốc, tiêu dùng giảm từ 45% xuống c̣n 35%. Ngay cả khi chi tiêu có tăng, th́ tầng lớp đông đảo người tiêu dùng giàu có mà lẽ ra tăng trưởng kinh tế phải tạo ra vẫn không hoàn toàn tồn tại.


Cái giá phải trả

Thu nhập b́nh quân hàng năm tại hầu hết các nền kinh tế châu Á mới nổi thấp hơn 3.000 USD tính theo giá thị trường hối đoái, hoặc thấp hơn 10.000 USD nếu tính theo cân bằng sức mua. Hơn thế, số người giàu có sống tại các khu đô thị hóa bị thu hẹp, nói một cách tương đối. Một báo cáo mới đây của công ty tư vấn McKinsey & Company ước tính khoảng 1,6 triệu hộ gia đ́nh ở Trung Quốc kiếm hơn 36.500 USD/năm. Dù đây thuộc vào mức thu nhập khá giả, nhưng cũng không đủ để hỗ trợ cho tăng trưởng nội địa trên diện rộng. Có thể sẽ có 2 tỷ người tiêu dùng mới ở riêng Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng hầu hết họ đều rất nghèo.

Một yếu tố khác của sự thần kỳ kinh tế châu Á – kế hoạch hóa tập trung – dẫn tới những khó khăn hiện nay. Sự giám sát của nhà nước từng tạo ra sự ổn định trong các giai đoan đầu tăng trưởng giờ đang ḱm nén giới chủ và kiềm chế mạnh tăng trưởng nội địa. Sau ba thập kỷ cải cách, chính phủ Trung Quốc vẫn sở hữu 76% tài sản quốc gia, kiểm soát lĩnh vực ngân hàng, và giám sát các doanh nghiệp nhà nước vốn chiếm 1/5 nền kinh tế. Tương tự, tại Ấn Độ, chính phủ đă hủy bỏ các quy định rối rắm vốn được biết đến với cái tên “giấy phép thời cai trị của Anh”, nhưng tấm thảm đỏ vẫn bóp nghẹt các doanh nghiệp. Tại Nhật Bản, c̣n có một cụm từ, kansei fukyo, dành để nói về sự suy thoái nảy sinh do các sai lầm của giới hoạch định chính sách.

Rút cục, tăng trưởng dựa vào xuất khẩu khiến ta phải trả những cái giá vô h́nh. Nó làm phân tâm các nhà hoạch định chính sách và lănh đạo doanh nghiệp khỏi công việc nặng nhọc là xây dựng và củng cố các thể chế cần thiết cho nền kinh tế trong nước phát triển bền vững. Nhiều trong số tài sản mới được sử dụng một cách không hiệu quả hoặc bị tích trữ, tách khỏi nền kinh tế. Trong khi đó, những quốc gia làm ra vẻ giữ đồng nội tệ của ḿnh thấp hơn giá trị thực của nó đă bao cấp cho các nhà xuất khẩu bằng tiền của các nhà sản xuất và tiêu dùng nội địa.

Sự suy yếu rơ ràng trong một số quốc gia cũng bị lờ đi – từ tham nhũng, đến một hệ thống luật pháp không c̣n phù hợp, và môi trường xuống cấp. Thực vậy, khi mô h́nh xuất khẩu đem lại thành công, việc cải cách cơ cấu trở nên khó khăn hơn, v́ các lợi ích được phong cho nó càng lớn hơn. Toàn khu vực giờ đây trở nên yếu đi, chuẩn bị cho một thời kỳ tăng trưởng chậm kéo dài. Châu Á đă bị bỏ lại với một số quyết định rất khó đưa ra trong một môi trường kinh tế rơ ràng khó khăn hơn.

Quốc Thái
__________________
Life is short, make it fun.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump

Similar Threads
Thread Thread Starter Forum Replies Last Post
'Siêu linh kỳ bí' làm các nhà khoa học bó tay TungVN Tin Tức Linh Tinh / Miscelaneous News 42 3 Weeks Ago 06:07 PM
Tam Quốc Chí Thời @ ProCEO Thơ Thẩn / Poetry 24 05-08-2010 10:25 AM
HẠnh phúc là ǵ? cảithảo Góc Nhỏ Giao Lưu / Small exchange conner 3 03-17-2010 11:32 PM
Bóng Đè anle Trai & Gái / Men and Women 0 01-20-2009 03:06 PM
Anh có biết đêm lạnh ra sao không? cảithảo Thơ Thẩn / Poetry 1 12-17-2008 01:14 PM


All times are GMT +8. The time now is 05:27 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.4
Copyright ©2000 - 2010, Jelsoft Enterprises Ltd.