|
|
|||||||
|
|
|
![]() |
|
|
Thread Tools | Display Modes |
|
#1
|
||||
|
||||
|
Chữa bệnh bằng cây rau dền
Rau dền có 2 loại: trắng và đỏ. Ngoài tác dụng làm món ăn, cả 2 loại rau này đều là những vị thuốc hay. Rau dền vị ngọt, tính lạnh, không độc, giúp dễ sinh, trị lở môi, lở loét do sơn ăn và sát trùng, khử độc nọc ong, rắn. Trong Đông y, rau dền có thể dùng trong các trường hợp sau: - Trị chứng máu nóng sinh kiết lỵ, lở loét: Bệnh này xuất hiện do bên trong quá nóng mà sinh ra bị kiết lỵ, lở loét hoặc bị cả 2 bệnh trong cùng một thời gian. Dùng rau dền đỏ luộc chín tới, ăn cả nước lẫn cái. Mỗi ngày ăn khoảng 15-20 g, ăn trong vài ngày là khỏi. Nếu mắc chứng ho lâu ngày, dai dẳng không khỏi th́ bài thuốc này cũng trị được. - Trị rắn cắn: Lấy rau dền đỏ giă nát, vắt lấy khoảng 1 bát nước cho uống, c̣n bă đắp lên vết thương. Khi bị rắn cắn, phải lập tức băng chặt (bằng dây chun hoặc dây vải) phía trên vết cắn (phía gần với tim hơn) rồi mới dùng thuốc. Sau đó, phải đưa ngay đến bệnh viện gần nhất. - Chữa vết ong đốt: Nếu bị ong đốt (nhất là giống ong to có độc) th́ lấy rau dền ṿ nát, xát cả vào vết đốt là khỏi. Lưu ư: Không nên ăn thịt ba ba cùng với rau dền v́ theo Đông y, việc 2 thứ này kết hợp với nhau có thể gây độc. Gặp trường hợp này, cần uống nước rau muống giă hoặc ăn rau muống sống để giải độc. Cây cỏ ngọt - bạn của bệnh nhân tiểu đường Trong thiên nhiên có nhiều loại cây chứa đường năng lượng thấp, với độ ngọt cao gấp hàng trăm lần đường mía. Chúng được dùng làm chất thay thế đường cho những người phải kiêng loại thực phẩm này. Cỏ ngọt (c̣n gọi là cỏ mật, cỏ đường, cúc ngọt, trạch lan) là một loại cây như thế. Cỏ ngọt được biết đến từ năm 1908. Hai nhà khoa học Reseback và Dieterich đă chiết xuất được glucozit từ lá cỏ ngọt. Đến năm 1931, Bridel và Lavieille mới xác định được glucozit đó chính là steviozit, chất cơ bản tạo nên độ ngọt ở loại cây này. Steviozit sau khi thủy phân sẽ cho 3 phân tử steviol và isosteviol. Chất steviol ngọt gấp 300 lần đường saccaroza, ít năng lượng, không lên men, không bị phân hủy mà hương vị thơm ngon, có thể dùng để thay thế đường trong chế độ ăn kiêng. Đặc tính quan trọng của các glucozit này là có thể làm ngọt các loại thức ăn và đồ uống mà không gây độc hại cho người, không đ̣i hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp, năng suất cao, công nghệ thu hái chế biến đơn giản. Khối lượng thân, lá và chất lượng cỏ ngọt đạt cao nhất ở thời kỳ trước khi nở hoa, nghĩa là nên thu hoạch ở giai đoạn h́nh thành nụ. Cỏ ngọt có nguồn gốc tự nhiên ở vùng Amambay và Iquacu thuộc biên giới Brazil và Paraguay. Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đă phát triển việc dùng loại cây này trong đời sống. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, người dân Paraguay đă biết sử dụng cỏ ngọt như một loại nước giải khát. Đến những năm 70, cỏ ngọt đă bắt đầu được dùng rộng răi ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á. Tại Việt Nam, từ năm 1988, cỏ ngọt đă được nhập và trồng ở nhiều vùng như Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tây, Lâm Đồng... Chất ngọt chiết xuất từ lá cỏ ngọt khô được Công ty RSIT ở Canada gọi là “chất ngọt hoàng gia” bởi giá trị tuyệt vời của nó. Đây cũng là một công ty có bản quyền về chế tạo “chất ngọt hoàng gia” mà không gây ô nhiễm môi trường, không sử dụng hóa chất, sử dụng chất trao đổi ion để phân lập, chiết xuất và tinh chế các thành phần glucozit tự nhiên của cây. Cỏ ngọt cũng được dùng như một loại trà dành cho những người bị bệnh tiểu đường, béo ph́ hoặc cao huyết áp. Một thí nghiệm được tiến hành trên 40 bệnh nhân cao huyết áp độ tuổi 50, cho thấy, loại trà này có tác dụng lợi tiểu, người bệnh thấy dễ chịu, ít đau đầu, huyết áp tương đối ổn định. Trong công nghiệp thực phẩm, cỏ ngọt được dùng để pha chế làm tăng độ ngọt mà không làm tăng năng lượng của thực phẩm. Ngoài ra, loại cây này c̣n được dùng trong chế biến mỹ phẩm, chẳng hạn sữa làm mượt tóc, kem làm mềm da. Nó vừa có tác dụng nuôi dưỡng tất cả các mô, tái tạo làn da mới vừa chống nhiễm khuẩn, trừ nấm. Cây bồ công anh làm thuốc Loại cây này c̣n có tên là rau bồ cóc, diếp dại, mũi mác, rau bao; thường mọc hoang ở nhiều nơi. Theo y học cổ truyền, bồ công anh vị đắng ngọt, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chữa các bệnh mụn nhọt, lở loét, viêm dạ dày - tá tràng, viêm gan, viêm họng.. Một số bài thuốc nam thường dùng trong dân gian: - Mắt đau sưng đỏ: Bồ công anh 40 g, dành dành 12 g. Sắc uống ngày một thang. - Viêm tuyến vú, tắc tia sữa: Bồ công anh 30-50 g tươi, giă nát vắt lấy nước cốt uống, bă đắp lên vú. - Mụn nhọt: Bồ công anh 40 g, bèo cái 50 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang. - Viêm họng: Bồ công anh 40 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang. - Viêm loét dạ dày, tá tràng: Bồ công anh 40 g, lá khôi, nghệ vàng 20 g, mai mực 10 g, cam thảo 5 g. Sắc uống ngày một thang. - Viêm phổi, phế quản: Bồ công anh 40 g, vỏ rễ dâu 20 g, hạt tía tô 10 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang. - Viêm gan virus: Bồ công anh 30 g, nhân trần 20 g, chó đẻ răng cưa (kiềm vườn) 20 g, rau má 30 g, cam thảo nam 20g. Sắc uống ngày một thang. Vị thuốc từ cây mía Để chữa nứt nẻ chân, lấy ngọn mía và bèo cái mỗi thứ khoảng 100 g, giă nát, thêm vào một bát nước tiểu (trẻ em càng tốt), nấu sôi. Để nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ khoảng 30 phút. Nước mía vị ngọt mát, tính b́nh, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm, chống nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng. Một số bài thuốc cụ thể: - Chữa chín mé: Lấy lơi trắng ở ngọn cây mía giă nát, trộn với ḷng trắng trứng gà rồi đắp và băng lại. - Chữa ngộ độc: Thân mía 80 g, thục địa, ư dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30 g, lá tre, kim ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20 g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi đun lửa nhỏ 15-20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi người. Cũng có thể chữa ngộ độc bằng cách lấy thân cây mía giă nát cùng với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với nước dừa mà uống. - Chữa khí hư: Lá cây mía tím 30 g, lá huyết dụ 30 g, hoa ṃ đỏ 20 g, rễ ṃ trắng 80 g. Tất cả các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày. - Làm thuốc an thai: Mầm mía 30 g, củ gai 30 g, ích mẫu 20 g, củ gấu 80 g, sa nhân 2 g. Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước, c̣n 100 ml uống trong ngày, chia làm 2 lần. Lưu ư: Trong bữa ăn có cua th́ không nên ăn mật mía, dễ sinh độc. Rau họ cải chống ung thư ruột kết Chỉ cần ăn 2-3 bữa các loại rau cải mỗi tuần, bạn có thể an tâm tránh xa căn bệnh ung thư ruột kết. Nguyên nhân là v́ trong quá tŕnh chế biến, những loại rau này sản sinh một chất đặc biệt gọi tắt là AITC, có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư. AITC thực chất là một sản phẩm của quá tŕnh phá vỡ hợp chất sinigrin trong các loại rau họ cải như mù tạc, bắp cải, súp lơ, củ cải Thuỵ Điển, cải xoăn, wassabi... AITC xuất hiện khi cắt, chế biến và tiêu hóa rau. Theo các chuyên gia đến từ Viện nghiên cứu Thực phẩm Anh, ngoài khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư ruột kết, AITC c̣n có thể ngăn chặn sự xâm lấn của khối u. Kết quả nghiên cứu được tuyên bố đúng vào thời điểm Quỹ Ung thư Thế giới (WCRF) thông báo kế hoạch triển khai một nghiên cứu quy mô nhất từ trước tới nay về chế độ dinh dưỡng và căn bệnh ung thư. Trong đó, các nhà khoa học trên toàn cầu sẽ được giao nhiệm vụ t́m hiểu hơn 10.000 công tŕnh liên quan, nhằm thiết lập một hướng dẫn tổng hợp, cụ thể và đáng tin cậy về loại thực phẩm nào con người cần ăn để chống ung thư. Nghiên cứu dự kiến sẽ được công bố vào năm 2006. Cho đến thời điểm này, nội dung nghiên cứu đă được phân bổ về một số viện nghiên cứu và đại học, trong đó các đại học ở Leeds và Bristol (Anh) sẽ chịu trách nhiệm đối chiếu thông tin về các loại ung thư tuyến tuỵ, dạ dày, bàng quang, tuyến tiền liệt và thận. Ở Mỹ, Đại học bang Pennsylvania sẽ t́m hiểu sâu về ung thư miệng và ṿm họng, Đại học Johns Hopkins sẽ tập trung nghiên cứu về ung thư phổi và họng trên, Trường Kaiser Permanente sẽ nhận đề tài về ung thư tử cung. Tại Hà Lan sẽ là ung thư ruột kết, trực tràng, gan và túi mật; c̣n Viện Ung thư Italy sẽ t́m hiểu ung thư vú, buồng trứng và cổ tử cung. Giáo sư Martin Wiseman, giám đốc dự án và cố vấn khoa học - y tế của WCRF, cho biết: "Bất cứ khi nào xuất hiện một nghiên cứu mới liên quan đến dinh dưỡng và ung thư, chúng sẽ hoặc là đối lập, hoặc là phức tạp hóa các kết quả trước đó. Hậu quả là người dân rất dễ bị rối, nhầm lẫn, thậm chí hoảng loạn. Đó là lư do v́ sao cần phải tiến hành một công tŕnh nghiên cứu tổng hợp, nhằm cung cấp những lời khuyên đáng tin cậy nhất dựa trên cơ sở khoa học. Nó sẽ làm sáng tỏ những quan niệm sai lầm và giải toả mọi nghi ngờ về dinh dưỡng và căn bệnh ung thư từ trước tới nay". Chuối sẽ giảm stress? Bạn không gầy và ốm đau, song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và bồn chồn. Đó là những biểu hiện thông thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc sống hiện đại. Thần kinh căng thẳng cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ. Có rất nhiều loại thực phẩm hỗ trợ cho thần kinh nhưng không gây béo. V́ vậy, việc lựa chọn đúng loại và đúng liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn sảng khoái. Thực đơn hoàn thiện Ăn đủ bữa và đủ chất là yếu tố đầu tiên cần lưu ư. Trong bữa ăn cần có đủ rau, ngũ cốc và hoa quả. Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản xuất đủ lượng đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị hạ đường huyết - nguyên nhân số một gây bồn chồn và cáu gắt. Đối với thần kinh yếu... Bột mỳ là dưỡng chất an toàn nhất. Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh mỳ hoặc các loại bánh quy trong ngày. Nên lưu ư đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm có tác dụng bồi bổ năo như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối ... Thói quen uống đều đặn chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh. Uống nhiều nước Uống nước lọc vào bất cứ lúc nào có thể. Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày. Cần loại bỏ thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè đen. Làm nóng cầu ch́ năng lượng... Bằng những thực đơn sau: - Nấu cháo gạo tẻ với sữa 2 lần/tuần. - Salát hoa quả gồm chuối, dứa. - Bữa phụ nên ăn lạc rang, hạt điều, hạt dẻ. Nước sinh tố: 1 quả chuối, 1 th́a nước cốt chanh tươi, 1 th́a lạc rang bóc vỏ, 1 th́a mật ong, 150 mg sữa tươi. Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống không hoặc kèm với đá bào. Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng cường năng lượng, sữa giàu canxi và lạc mang lại lecithin. Tất cả đều rất có lợi cho hoạt động của năo bộ. Cây sắn dây chữa bệnh Củ sắn dây (Đông y gọi là cát căn) vị ngọt cay, tính b́nh, có tác dụng giải độc, thải nhiệt. Nó được dùng chữa sốt, nhiệt ở miệng, nhức đầu do sốt, khát nước, đi lỵ ra máu. Ngày dùng 8-20 g dưới dạng thuốc sắc. Một số đơn thuốc có củ sắn dây: - Chữa cảm mạo sốt cao: Củ sắn dây 8 g, ma hoàng 5 g, quế chi 4 g, đại táo 5 g, thược dược 4 g, sinh khương 5 g, cam thảo 4 g, nước 600 ml, sắc c̣n 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày. - Bột rắc những nơi mồ hôi ẩm ngứa: Bột sắn dây 5 g, thiên hoa phấn 5 g, ḥa thạch 20 g, trộn đều, tán nhỏ, rắc những nơi ẩm ngứa. - Chữa trẻ sốt: Củ sắn dây 20 g, thêm 200 ml nước sắc c̣n 100 ml, cho trẻ uống trong ngày. - Chữa rắn cắn: Khi bị rắn độc cắn, lấy lá sắn dây tươi giă vắt lấy nước uống, bă đắp lên vết rắn cắn. Tác dụng chữa bệnh của rau muống Rau muống có thể thải trừ cholesterol máu và chống tăng huyết áp. V́ vậy, những người bị chứng huyết áp cao, cholesterol máu cao, cơ thể gầy khô nên ăn nhiều loại rau này. Theo Đông y, rau muống vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng giải độc, thông đại tiểu tiện, chữa táo bón, đái rắt. Dân gian dùng rau muống để pḥng và chữa một số chứng bệnh thường gặp: - Làm mất tác dụng của những thuốc đă uống, giải độc: Rau muống rửa sạch giă nát, vắt lấy nước uống. - Chữa vết thương, vết mổ sâu rộng: Ăn rau muống hằng ngày kích thích sinh da chóng đầy miệng (những trường hợp có cơ địa sẹo lồi không nên dùng trong thời gian chưa liền sẹo). - Giảm đường máu: Bệnh nhân tiểu đường nên dùng rau muống thường xuyên. - Chữa dị ứng bội nhiễm ngoài da: Rau muống tươi một nắm rửa sạch, đun sôi kỹ, để vừa ấm, rửa chỗ thương tổn. Hoặc: Rau muống 30 g, râu ngô 15 g, mă thầy (củ năn) 10 củ. Sắc uống hằng ngày đến khi khỏi. Hành ta, hành tây - thuốc quư của mọi nhà Để rút kim, gai nằm trong vết thương, lấy hành ta 5 phần, muối 1 phần giă nát, đắp vào vết thương rồi dán băng dính, để qua đêm; gai, kim sẽ ra. C̣n để đuổi muỗi, nên cắt đôi vài củ hành tây đặt vào giường, muỗi sẽ không dám bén mảng đến. Các nhà dược học cho biết, hành chứa chất kháng sinh alixin, có khả năng diệt khuẩn rất mạnh. Trong hành tây c̣n có chất phytonxit là loại kháng sinh mạnh. Theo Đông y, hành ta vị cay, tính b́nh, không độc, có khả năng giải cảm, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sốt cảm, nhức đầu, mặt phù thũng, làm an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng. Hành c̣n kích thích thần kinh, làm tăng bài tiết dịch tiêu hóa, pḥng ngừa kư sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Dùng ngoài chữa mưng mủ. Nước hành nhỏ mũi giúp chữa ngạt mũi cấp tính, mạn tính, viêm niêm mạc mũi. Hành tây c̣n dùng chữa ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị bệnh cổ chướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ giun đũa, trừ ho, chống béo ph́, xơ cứng động mạch, kích dục, chống muỗi, dĩn. Dùng ngoài trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên. Hành sống có tác dụng mạnh hơn. Các bài thuốc có hành: - Cảm cúm, nhức đầu: Lấy hành ta 6-8 củ, gừng sống 10 g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước sôi, xông miệng mũi mỗi ngày 2-3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để uống (1 ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ). - Động thai: Hành ta tươi 60 g, sắc uống dần đến khi yên thai th́ thôi. - Nhau thai không ra: Dùng 4-5 củ hành ta, nhai nuốt. - Tăng huyết áp: Hành tây 2-3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường xuyên. Uống 4-5 lần, huyết áp sẽ hạ. - Trị phong thấp: 3 củ hành tây xắt lát, đổ 1 lít nước, đun 10-15 phút. Ngày uống 2 ly vào sáng và tối lúc bụng đói. - Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm. Đun nước uống trong ngày. - Tắc ruột do giun đũa: Lá hành tươi 30 g giă nát, trộn với 30 g dầu vừng (dầu mè). Uống ngày 2-3 lần. Lương y Minh Chánh, Sức Khoẻ & Đời Sống Các bài thuốc từ cây ổi Các bệnh nhân tiểu đường có thể lấy quả ổi 250 g rửa sạch, thái miếng, dùng máy ép lấy nước, chia uống 2 lần trong ngày; hoặc dùng lá ổi khô 15-30 g sắc uống mỗi ngày. Ổi có tên khoa học là Psidium guajava L., dân gian c̣n gọi là phan thạch lựu, thu quả, phan nhẫm, bạt tử, lăm bạt, phan quỷ tử... Các nghiên cứu dược lư cho thấy, dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng. Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng, tính ấm, có công dụng tiêu thũng, giải độc, chỉ huyết. Quả ổi vị ngọt hơi chua, tính ấm, có công dụng kiện vị, cố tràng. Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa những bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết... Một số bài thuốc cụ thể: 1. Viêm dạ dày - ruột cấp và mạn tính: - Lá ổi non sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 6 g, mỗi ngày 2 lần. - Lá ổi 1 nắm, gừng tươi 6-9 g, muối ăn một ít, tất cả ṿ nát, sao chín rồi sắc uống. - Quả ổi, xích địa lợi và quỷ châm thảo, mỗi thứ từ 9-15 g, sắc uống. 2. Lỵ mạn tính: - Quả ổi khô 2-3 quả, thái phiến, sắc uống. - Lá ổi tươi 30-60 g sắc uống. 3. Trẻ em tiêu hóa không tốt: - Lá ổi 30 g, hồng căn thảo (tây thảo) 30 g, hồng trà 10-12 g, gạo tẻ sao thơm 15-30 g, sắc với 1.000 ml nước, cô lại c̣n 500 ml, cho thêm một chút đường trắng và muối ăn, uống mỗi ngày. Trẻ 1-6 tháng tuổi chỉ uống mỗi ngày 250 ml. 4. Tiêu chảy: - Búp ổi hoặc vỏ dộp ổi 20 g, búp vối 12 g, búp hoặc nụ sim 12 g, búp chè 12 g, gừng tươi 12 g, rốn chuối tiêu 20 g, hạt cau già 12 g, sắc đặc uống. - Búp ổi 12 g, vỏ dộp ổi 8 g, gừng tươi 2 g, tô mộc 8 g, sắc với 200 ml nước, cô c̣n 100 ml. Trẻ 2-5 tuổi mỗi lần uống 5-10 ml, cách 2 giờ uống 1 lần. Người lớn mỗi lần uống 20-30 ml, mỗi ngày 2-3 lần. - Với tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi sao 12 g, gừng tươi 8 g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc cùng 500 ml nước, cô c̣n 200 ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi hay lá ổi non 20 g, vỏ quưt khô 10 g, gừng tươi 10 g nướng chín, sắc với 1 bát nước, cô c̣n nửa bát, uống nóng. Cũng có thể lấy búp ổi 60 g, nụ sim 8 g, riềng 20 g, ba thứ sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g với nước ấm. - Với tiêu chảy do nóng (thấp nhiệt), dùng vỏ dộp ổi 20 g sao vàng, lá chè tươi 15 g sao vàng, nụ sim 10 g, trần b́ 10 g, củ sắn dây 10 g sao vàng, tất cả tán bột, người lớn mỗi lần uống 10 g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn. Hoặc: Vỏ dộp ổi sao vàng 20 g, vỏ duối sao vàng 20 g, vỏ quưt sao vàng 20 g, bông mă đề sao vàng 20 g, sắc đặc uống nóng. Cũng có thể lấy bột vỏ dộp ổi 8 phần, bột gạch non 2 phần, trộn đều, luyện thành viên, mỗi lần uống 10 g, mỗi ngày 2 lần. - Với tiêu chảy do công năng tỳ vị hư yếu, dùng lá hoặc búp ổi non 20 g, gừng tươi nướng cháy 10 g, ngải cứu khô 40 g, sắc cùng 3 bát nước, cô c̣n 1 bát, chia uống vài lần trong ngày. - Với trẻ em đi lỏng, dùng lá ổi tươi 30 g, rau diếp cá 30 g, xa tiền thảo 30 g, sắc kỹ lấy 60 ml, trẻ dưới 1 tuổi uống mỗi lần 10-15 ml, trẻ 1-2 tuổi uống 15-20 ml, mỗi ngày 3 lần. 5. Băng huyết: Quả ổi khô sao cháy tồn tính, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9 g pha với nước ấm. 6. Đau răng: Vỏ rễ cây ổi sắc với dấm chua, ngậm nhiều lần trong ngày. 7. Thoát giang (sa trực tràng): Lá ổi tươi lượng vừa đủ, sắc kỹ lấy nước ngâm rửa hậu môn. Có thể kết hợp dùng quả ổi khô sắc uống. 8. Mụn nhọt mới phát: Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, rửa sạch, giă nát rồi đắp lên vùng tổn thương. Cây hướng dương - vị thuốc quư Để chữa cao huyết áp, có thể dùng lá hướng dương khô 30 g (hoặc 60 g lá tươi), thổ ngưu tất 30 g, sắc nước uống thay trà trong ngày. C̣n với chứng ù tai, mỗi ngày nên dùng vỏ hạt hướng dương 15 g, sắc lấy nước uống. Hướng dương c̣n được gọi là hướng dương quỳ tử, thiên quỳ tử, quỳ tử, quỳ hoa tử; tên khoa học Helianthus annuus L. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy, chất phosphatide trong hạt hướng dương có tác dụng dự pḥng các chứng cao mỡ máu cấp và tăng cholesterol máu mạn tính. Chất axit Linolenic trong hạt hướng dương có tác dụng chống h́nh thành huyết khối đối với chuột thí nghiệm. Theo Đông y, toàn bộ cây hướng dương đều có thể dùng làm thuốc: - Hạt: Vị ngọt, tính b́nh, không độc, dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được. - Vỏ hạt: Chữa tai ù. - Hoa: Có tác dụng trừ phong, sáng mắt, dùng chữa đầu choáng váng, mặt sưng phù, thúc sinh cho phụ nữ. - Khay hạt: Chữa đau đầu, mắt hoa, đau răng, đau dạ dày và bụng, phụ nữ thống kinh, sưng đau lở loét. - Lá: Tăng cường tiêu hóa và chữa cao huyết áp. - Lơi thân cành: Chữa tiểu tiện xuất huyết, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó. - Rễ: Chữa đau tức ngực, sườn và vùng thượng vị, thông đại tiểu tiện, mụn nhọt lở loét chảy nước vàng. Một số bài thuốc: - Ho gà: Dùng lơi thân và cành cây hướng dương 15-30 g, giă nát, hăm nước sôi, thêm đường trắng và uống trong ngày. - Thượng vị đau tức do ăn không tiêu: Dùng rễ cây hoa hướng dương, hạt mùi, tiểu hồi hương mỗi vị 6-10 g, sắc nước uống. - Kiết lỵ đại tiện xuất huyết: Dùng hạt hướng dương (đă bóc vỏ) 30 g, hăm với nước sôi trong 1 tiếng, pha thêm chút đường phèn uống trong ngày. - Đại tiện không thông: Dùng rễ cây hoa hướng dương giă nát, vắt lấy nước cốt, ḥa thêm chút mật ong uống. Mỗi lần uống 15-30 g, ngày uống 2-3 lần. - Chữa tiểu nhỏ giọt, dương vật đau buốt: Dùng rễ cây hoa hướng dương tươi 30 g sắc với nước uống (chỉ đun sôi một vài phút, không nấu quá lâu sẽ mất tác dụng). Hoặc dùng lơi thân và cành cây hướng dương 15 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày. - Tinh hoàn sưng đau: Dùng rễ cây hoa hướng dương 30 g, sắc với đường đỏ uống. - Sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: Dùng lơi thân cành cây hướng dương một đoạn dài 1 mét, cắt ngắn, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong một tuần. - Đau bụng kinh: Dùng khay hạt hướng dương 30-60 g, sắc lấy nước, ḥa thêm đường đỏ uống trong ngày. - Viêm tuyến vú: Dùng khay hạt hướng dương bỏ hết hạt, thái nhỏ, sao vàng, tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-15 g, ḥa với rượu hoặc nước sôi, sau khi uống lần thứ nhất nếu ra mồ hôi th́ mới có kết quả (Trung dược đại từ điển). - Ung nhọt sưng tấy, lở loét: Dùng khay hạt thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, ḥa với dầu vừng bôi vào chỗ bị bệnh. - Ngoại thương xuất huyết: Dùng lơi thân và cành cây hướng dương giă nát, đắp vào chỗ chảy máu. - Đau răng: Hoa hướng dương phơi hoặc sấy khô, nhồi vào tẩu thuốc lá hoặc nơ điếu cày, hút như thuốc lá hoặc thuốc lào. Hoặc: Dùng khay hạt hướng dương, rễ câu kỷ tử mỗi thứ 10-15 g, luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc.
__________________
The best and the most beautiful things in the world can not be seen or even touched.They must be left with the heart. |
| The Following 2 Users Say Thank You to Nhoc_Chi For This Useful Post: | ||
lthanhbinhvn (10-03-2009),
TungVN (10-03-2009)
| ||
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
|
|
Similar Threads
|
||||
| Thread | Thread Starter | Forum | Replies | Last Post |
| Bệnh thận và ghép thận | TungVN | Y-Học phổ thông / Common Medicine | 0 | 05-01-2009 09:39 AM |
| Cà Rốt và Củ Hành | LeVuong | Gỡ Rối Tơ Ḷng / Open the ties of affection | 4 | 04-16-2009 01:19 PM |
| Bí ẩn về cụ Nguyễn Đức Cần - Một Thánh Nhân | TungVN | Tin Tức Linh Tinh / Miscelaneous News | 6 | 09-27-2008 02:12 AM |
| Bệnh nhân gout không c̣n đơn độc. | lặnglẽ | Y-Học phổ thông / Common Medicine | 0 | 08-19-2008 11:23 PM |
| Khi người nghèo mắc bệnh ung thư | TungVN | IV- Giao Lưu Từ Thiện,Từ Tâm / The stream of Charity | 0 | 06-21-2008 10:18 PM |