|
|
|||||||
|
|
|
![]() |
|
|
Thread Tools | Display Modes |
|
#1
|
||||
|
||||
|
Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch Người viết : GIÁO SƯ H.N. BANERJEE Giáo Sư H.N. Banerjee là một Giáo Sư nổi tiếng Khoa Trưởng Khoa Tâm Linh của Đại Học Đường Rajasthan, Jaipur, Ấn Độ. Ông chuyên khảo cứu về các vụ luân hồi tại Âu cũng như Á. Hàng trăm chuyện luân hồi đă được giáo sư điều tra tại chỗ. Hồ sơ các vụ đó hiện c̣n đang lưu trữ tại Trường Đại Học này. Sau đây là hai vụ điển h́nh: Chandgari và Necati trong cuốn Reincarnation East and West của tác giả do nhà Xuất Bản Double Day, New York, Garden City phát hành năm 1974. -ooOoo- CHANDGARI Chandgari là một làng nhỏ có dân số hơn 1 ngàn người nằm trên Thượng Lưu Sông Hằng, Ấn Độ. Từ Đại Lộ Chính đường dẫn vào làng là những con đường nhỏ, thế mà một câu chuyện luân hồi xảy ra đă khiến cái làng bộ nhỏ xa xôi này trở thành nổi tiếng trên thế giới làm cho tất cả các Trung Tâm Tâm Lư, Siêu Linh Học đều phải chú ư. Câu chuyện nghịch lư bằng sanh mà cũng là tử nữa. Câu chuyện không xảy ra chỉ riêng ở làng Chandgari mà cũng c̣n liên quan đến làng Itarni thuộc Quận Aligarth cách Chandgari chừng ít dậm. Vào đầu năm 1960, một thanh niên làng Itarni tên là Bhajan Singh, 21 tuổi bị chết sau một cơn sốt cấp tính. Cũng khoảng thời gian trên một đứa bộ được sanh ra tại Chandgari và được cha mẹ đặt tên là Munesh. Từ khi chào đời đến lúc lên 3 tuổi mọi việc đều b́nh thường, không có ǵ đáng kể. Nhưng khi được 4 tuổi, trong lúc chơi với các bạn đồng trang lứa, em thường nhắc đến cái làng Atharni và nói rằng em đă từng ở nơi ấy. Các bạn em đều chế nhạo, cho rằng em nói đến một cái tên xa lạ không có trên thực tế. Một hôm người mẹ đang tắm cho em th́ em la lối om ṣm. Bà giận dữ tát em một bạt tai. Em hờn dỗi nói: "Mẹ à, nếu mẹ đánh con nữa, con sẽ đi khỏi nơi đây ". Bà thắc mắc hỏi em định đi đâu. Với một giọng tự nhiên em trả lời: "Con sẽ trở về làng con, làng Atharni mới thật sự là làng của con, con không phải người thuộc làng này ". Người mẹ chưa bao giờ nghe thấy làng Atharni cả, nhưng sau vài phút nghĩ ngợi bà cho rằng có lẽ em muốn nói đến làng Itarni, một làng cách xa Chandgari vài dậm. Bà la rầy và cấm em không được nói đến chuyện ngớ ngẩn ấy nữa. Em căi lại là chuyện này không ngớ ngẩn và c̣n cho biết tên em không phải là Munesh mà la Bhajan Singh, người làng Atharni chứ không phải làng này. Em c̣n nói em có một căn nhà, một cái giếng, một thửa vườn và một nông trại. Em nói thêm: "Con có một người vợ, một người anh, một người mẹ và một người con gái". Người mẹ mắng em và bảo em đừng bao giờ kể chuyện của đứa trẻ nít ban ngày mê ngủ, nhưng ngược lại em nói đó là sự thực. Giận quá, bà đánh em một trận nên thân và bắt em phải im ngay. Khi bắt đầu đi học, Munesh kể cho bạn bè ở trường về gia đ́nh em ở làng Atharni. Mọi người đều chế nhạo chê cười câu chuyện của em. Song không bao giờ Munesh thay đổi và cả quyết chính em là Bhajan Singh, em có thể nhớ lại tất cả những chuyện thật của em ở kiếp trước. Không một ai trong gia đ́nh cũng như trong bạn bè của em tin tưởng vào câu chuyện. Tuy nhiên trong gia đ́nh em có ông nội em là người thương em nhiều nhất. Ông cô quyết định điều tra vụ này xem thực hư ra sao. Ông cô nghỉ rằng sau khi t́m được sự thực, tất nhiên Munesh không c̣n nói bậy nữa. Ông cô có biết một người láng giềng quê ở Itarni, do đó ông cô đă t́m đến người này. Người láng giềng này đă có tuổi nên có nhiều kư ức về quá khứ. Ông cô hỏi: "Có bao giờ ông nghe thấy ở Itarni có một người tên là Bhajan Singh không? Người này đă chết sau một cơn sốt, để lại một người vợ và một người con gái?" Sau một hồi suy nghĩ, người láng giềng cho biết: "Tôi có nhớ một người ở Itarni có cái tên như vậy, và người ấy đă chết rồi để lại một người vợ và một người con gái. Hiện nay người vợ và đứa con gái đang sống tại Itarni". Sau khi nghe được tin này, ông cô viết thơ cho gia đ́nh Bhajan Singh và cho biết cháu nội ông tên Munesh ở Chandgari là hiện thân của Bhajan Singh. Ít ngày sau, người anh của Bhajan Singh và người em rể của Bhajan Singh đă đến Chandgari để t́m hiểu sự việc. Khi hai người đến th́ Munesh c̣n đang đi học. Munesh được người nhà đón về. Khi gặp hai người này th́ Munesh nhận ra một trong hai người là anh của ḿnh. (Từ lúc sanh ra đến nay, Munesh chưa bao giờ được gặp người này cả) Munesh nói: "Anh là anh tôi tên là Bhure Singh" Chắp hai tay như cầu nguyện với vẻ kính cẩn em lại trước người lạ và gọi người này là anh. Người này không phải là người nhẹ dạ chấp nhận ngay mà liên tiếp hỏi Munesh về nhà cửa, về gia đ́nh tại Itarni và về vợ con ra sao. Munesh đă trả lời đúng những câu hỏi của người anh không chút ngập ngừng. Munesh c̣n cho ngừời anh biết ở tiền kiếp em có một người bạn thân ở gần nhà. Người anh hỏi tên người đó th́ Munesh cho biết tên là Bhagwati. Ông Bhure Singh xác nhận "Đúng như vậy, Bhajan Singh và Bhagwati trước đây cùng lứa tuổi và hai người rất thân với nhau. Chúng là đôi bạn thân cho đến ngày Bhajan Singh từ trần lúc 21 tuổi. Khi người anh và người em rể lên đường về nhà th́ Munesh hết sức buồn bă, cố giữ lấy người anh và năn nỉ người anh đừng về. Người anh đă phải dỗ dành Munesh như sau: "Em cứ an tâm, trong ít ngày nữa anh sẽ trở lại, khoảng một tuần thôi anh sẽ đến đây mang Munesh về thăm Itarni". Vài ngày sau có hai người đàn bà tới làng Chandgari. Một người là Ayodhya Devi, vợ của Bhajan Singh và người thứ hai là chị dâu của em. Để t́m hiểu sự thực cũng như bán tín bán nghi về tin tức một đứa trẻ tự nhận là chồng luân hồi trở về, nên người vợ đă cùng người chị dâu t́m đến làng Chandgari để gặp Munesh. Hai người đàn bà này vóc dáng hao hao giống nhau, cũng cao và mảnh khảnh; 2 người đều che mạng kín mặt. Nghe tin có 2 người đàn bà lạ tới làng để t́m Munesh, một số dân làng đă đổ xô đến nhà Munesh. Khi gặp Munesh và ông nội, hai người đàn bà này vẫn che mạng và không giới thiệu ḿnh là ai. Ông nội Munesh muốn thử cháu nên hỏi: "Này Munesh trong hai người đàn bà này, một người là mẹ con đấy, con có nhận được ai là mẹ con không?". Không chút ngập ngừng, Munesh trả lời không ai là mẹ của Munesh cả, chỉ có vợ và chị dâu. Ngay lập tức Munesh chạy lại cầm tay Ayodhya Devi và nói rằng: "Đây là vợ tôi". Vừa sợ hăi vừa nghi ngờ có thể đây là một cái bẫy nên bà ta đă vội vàng rút tay ra khỏi bàn tay của Munesh. Tuy nhiên khóe mắt của bà ta và Munesh nh́n nhau chứa chan t́nh cảm. Người đàn bà dịu dàng nói với Munesh: "Lại đây tôi hỏi vài câu". Rồi người góa phụ hỏi Munesh nếu quả thật Munesh là hiện thân của người chồng có th́ hăy cho biết những chuyện bí mật riêng tư giữa hai người mà người ngoài không ai biết được. Munesh trả lời: "Đúng vậy tôi có đánh vợ tôi bằng hai cái cây dùng để xay bột. Sau khi dự cuộc thi ở Agra, tôi trở về Itarni th́ gặp vợ tôi đang căi nhau với mẹ tôi. Tôi đă đánh vợ tôi và làm cánh tay phải của vợ tôi bị chảy máu". Người góa phụ vô cùng sửng sốt, và xác nhận việc bất hạnh đó quả có xảy ra. Rồi Munesh c̣n cho góa phụ biết thêm nhiều chi tiết về sự thân mật giữa hai vợ chồng mà chỉ có hai người biết được mà thôi. Lúc nói những điều bí mật này Munesh đă không cho mọi người nghe thấy. Góa phụ Ayodhya Devi xác nhận những ǵ Munesh nói đều đúng sự thực và xin phép cho Munesh cùng về Itarni. Bấy giờ gia đ́nh Munesh mới tin đây không phải là một chuyện ngớ ngẩn mà là một chuyện có thực. Munesh cùng ông nội đi Itarni. Khi đến nơi th́ một đám đông người đă chờ sẵn, trong đám đông này, Munesh đă nhận đươc Bhagwati Prasad, người bạn thân ở tiền kiếp. Bhagwati nhận rằng anh đă chơi rất thân với Bhajan Singh xưa kia, để thử thách Bhagwati có hỏi Munesh nhiều câu, Munesh trả lời rất chính xác, có những sự kiện mà chỉ hai người biết được với nhau mà thôi. Tới Itarni Munesh không cần người hướng dẫn, tự ḿnh t́m được nhà, và nhảy lên ḷng mẹ Bhajan Singh. Munesh ôm chầm lấy bà, y như một đứa con mới t́m lại được mẹ sau nhiều năm xa cách. Mọi người chứng kiến nh́n thấy nước mắt đầm đ́a trên gương mặt Munesh. Sau đó Munesh thăm nhà cửa chỉ cho biết những ǵ đă thay đổi so với hồi tiền kiếp. Qua những sự kiện trên, Munesh quả là hiện thân của Bhajan Singh, đă từ trần vào năm 1960, lúc 21 tuổi tại Itarni. -ooOoo- NECATI Necati Unlustaskiran là một gia đ́nh Ả Rập nghèo tại Thành Phố Adana, Thổ Nhĩ Kỳ. Khi mới chào đời em được đặt tên là Malik. Nhưng hai ngày sau, trong một cơn mộng, người mẹ đă thấy đứa con của ḿnh yêu cầu được đổi tên là Necip. V́ trong gia đ́nh đă có người mang tên Necip rồi, nên theo tục lệ không thể hai người cùng một gịng họ cùng mang một tên nên gia đ́nh đă quyết định đổi Necip thành Necati. Khi bắt đầu biết nói, Necati thường kể những chuyện lạ lùng. Em nói những tên và những điều rất lạ mà gia đ́nh em chưa hề thấy bao giờ cả. Em nói đến kiếp trước của em, em kể tên những người em quen biết và tên của những người em đă từng sống chung Em mô tả em lớn lên như thế nào, và ở tiền kiếp em đă bị một người bạn thân giết. Em bảo ở tiền kiếp tên em là Necip Budak và em sống ở Mersin, Thổ Nhĩ Kỳ, vợ em tên là Zehara và có ba đứa con. Em nhớ lại là em rất sung sướng khi bồng bế đứa con trai tên Najak đi thăm người bạn thân Ahmed Renkli. Necip và Renkli là đôi bạn chí thiết. Một việc bất hạnh đă xảy ra với đôi bạn này. Một hôm Ahmed Renkli báo cho Necip biết là Renkli sẽ qua thăm Necip và mang biếu anh một ít trà, nhưng khi Renkli đến lại quên mất trà. Necip phàn nàn và hai người to tiếng căi nhau..., đi đến ẩu đả. Cuối cùng Renkli đă quá giận rút con dao nhíp sẵn có trong người và đâm túi bụi vào Necip. Necip đă chết thê thảm trên vũng máu. Những người ở trong thị trấn thấy Necati quả là hiện thân của Necip Budak bị giết trước đây nên đều gọi Necati bằng tên Necip. Những dữ kiện sau đây do Necati cho biết đă được kiểm chứng và xác nhận: 1. Zehara, vợ của Necip c̣n đang sống, chồng của Zehara tức Necip bị thảm sát. Zehara cùng Necip có ba người con. 2. Khi mang Necati đến nhà người chồng đă chết, Necati đă nhận được ngay ra được người vợ Zehara, nói được cả tên những đứa con, ngoại trừ đứa con thứ ba sanh sau khi Necip chết. 3. Một sự việc Necati nói là trong một cuộc căi vă Necip đă lấy dao đâm vào đùi vợ. Đúng như Necati đă nói, khi khám nghiệm Zehara có thấy một vết sẹo khá lớn trên đùi Zehara do Necip đâm. 4. Adana là nơi sanh của Necati. Adana cách xa Mersin là nơi trú ngụ bị đâm chết khoảng chừng 75 cây số. Gia đ́nh Necati hiện tại và Necip-Zehara đều không có liên hệ và không hề quen biết nhau. Phải chăng Necati chính là Necip Budak đă luân hồi nên mới có thể nhận được nào là vợ, nào là con và nhất là chỉ được vết thẹo trên đùi vợ mà chính Necip đă đâm trong khi nóng giận?
__________________
Helping the Children ! Support the Children ! Remember SCVNLive . SCVNLive : GO and GO ----------------------- Thank you . |
| The Following User Says Thank You to Tuucuong For This Useful Post: | ||
TungVN (03-20-2010)
| ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch HỌC GIẢ JOHN VAN AUKEN John Van Auken là một học giả, thành viên của Hội A.R.E. (Association for Research And Enlightement, Hội Nghiên Cứu và Giác Ngộ) của tổ chức Edgar Cayce từ 19 năm qua và rất nổi tiếng về những bài thuyết giảng và những tác phẩm của Ông, trong đó có tác phẩm "Reincarnation: Your Secret Life (Luân Hồi:Bí Mật về Đời Sống Của Quư Vị) do nhà xuất bản Ballantine Publishing Co. phát hành Năm 1991. Cuốn sách chứng tỏ tầm hiểu biết sâu rộng của Ông trong đó có phần Phụ lục nói về Edgar Cayce. Chúng tôi xin trích dịch phần Phụ lục nói về Edgar Cayce . -ooOoo- LUÂN HỒI VỀ EGAR CAYCE Edgar Cayce sanh Ngày 18 Tháng 3 năm 1877 tại một nông trại gần Hopkinsville, Kentucky. Thuở c̣n nhỏ Cayce đă chứng tỏ có trúc giác thần thông. Năm lên 6, Cayce cho cha mẹ biết có thể nói chuyện với những người họ hàng mới chết. Gục đầu ngủ trên cuốn sách, lúc thức dậy Cayce có thể nhớ trọn vẹn nội dung cuốn sách. Hết lớp bẩy, Cayce bỏ học và bước vào đời. Năm 21 tuổi, Cayce bị chứng sưng yết hầu làm mất giọng nói. Các bác sĩ điều trị không ai t́m được nguyên nhân căn bệnh. Cayce đă nhờ một người bạn giúp ông vào trạng thái thôi miên (trước khi c̣n đi học, ông vẫn hay áp dụng). Người bạn đă giúp ông. Trong trạng thái thôi miên ông đă nói rơ ràng và đi thẳng ngay vào bệnh trạng của ông. Ông cho biết phải dùng đến thuốc ǵ và phải điều trị như thế nào. Nhờ đó ông đă tự chữa được hết bệnh đau cổ họng mất tiếng. Các bác sĩ của Thành Phố Hopkinsville và Bowling Green tại Kentucky đă lợi dụng tài năng độc nhất vô nhị của Cayce để chữa trị cho bệnh nhân của họ. Chỉ cần cho Cayce biết tên và địa chỉ của bệnh nhân là Cayce có thể dùng thần giao cách cảm để đến với xác cũng như tâm linh của người này. Người bệnh không cần phải ở gần Cayce mà bất cứ ở đâu Cayce cũng có thể đến với bệnh nhân bằng thần giao cách cảm. Một vị bác sĩ trẻ làm việc chung với Cayce, đă tường tŕnh cái khả năng kỳ diệu này của Cayce cho Hội Nghiên Cứu Bệnh Lư của Boston; sự kiện làm kinh ngạc mọi người. Tờ Nữu Uớc Thời Báo số ra Ngày 9 Tháng 10 Năm 1910 đă đăng tải hai trang cột chính về đề tài này với nhiều h́nh ảnh. Từ đó mọi người trên toàn quốc đều t́m đến Cayce "Nhà Tiên Tri Hôn Mê" và Cayce nổi tiếng. Để đi vào trạng thái hôn mê, Ông thường nằm trên một chiếc trường kỷ, tay khoanh trước ngực và thở mạnh. Khi cặp chân mày Ông nhíu lại, đó là dấu hiệu báo cho người phụ trách (thường là Gertrude, vợ Ông) có thể nói chuyện với Ông. Nếu không có cái nhíu mày báo hiệu tức là Ông không tới được trạng thái hôn mê mà ông ch́m vào giấc ngủ. Ông thực hiện phương pháp như có người bệnh ở sát bên Ông, và đầu óc Ông như một bộ máy quang tuyến X khám xét từng mỗi tế bào trong cơ thể. Khi công việc này xong, Ông nói: "Sẵn sàng trả lời". Đầu óc sắp sẵn những câu trả lời cho các câu hỏi của bệnh nhân trong lúc Ông vẫn hôn mê. Khi nào Ông nói: "Bây giờ đă xong" là người phụ trách phải biết làm cho Ông tỉnh lại. Nếu phương pháp không được thi hành đúng, Ông có thể ở trong t́nh trạng nguy hiểm. Có lần Ông bị hôn mê ba ngày liền khiến các bác sĩ tưởng là Ông phải chết. Cứ mỗi lần ở trong t́nh trạng xuất hồn, viên tốc kỷ của Ông là Gladys Davis Turner phải ghi nhanh tất cả những ǵ Ông nói ra, đôi khi cô thư kỷ này ghi sai th́ chính Ông dù đang hôn mê vẫn có thể sửa lại cho đúng. Thần thức của Ông có thể nh́n thấy tất cả mọi thứ chung quanh Ông và cả ở xa nữa. Ngày 10 Tháng 8 Năm 1923, trong một cuộc thí nghiệm, mọi người đều muốn hỏi về sự sống, sự chết và tiền đồ của nhân loại. Trong một căn pḥng nhỏ ở một khách sạn tại Dayton, Ohio, Arthur Lammers đă nêu vấn đề triết lư ra để hỏi Ông về cái khả năng kỳ diệu của Ông. Trong cuộc khảo sát này, ông bắt đầu nói đến luân hồi như một sự thật hiển nhiên, như một thực thể. Cuối cùng Edgar Cayce đă chuyển về Virginia Beach (Virginia) thiết lập một bệnh viện do chính Ông điều khiển để chẩn bệnh theo phương pháp của Ông. Từ năm 1925 đến năm 1944 Ông đă tiên đoán 2500 lần, mô tả đời sống tiền kiếp nếu mọi người hiểu rằng luân hồi là thực. Những vấn đề như quá sợ hăi, thần kinh rung động, thiên tài về ca nhạc, khả năng thiên phú, khó khăn trong hôn nhân, học tập của các trẻ em theo Edgar Cayce cho biết là do nghiệp quả của tiền kiếp. Ngày 3 Tháng Giêng năm 1945 Edgar Cayce từ trần tại Virginia Beach, để lại trên 14000 tài liệu tốc kỷ của hơn 6000 người thuộc mọi tầng lớp xă hội trong thời gian 43 năm qua. Những lời tiên đoán của ông về siêu linh là một trong những hồ sơ quan trọng bậc nhất về tâm linh. Qua những hồ sơ, những thư từ, báo cáo, qua những sự phối kiểm của hàng ngàn những cuộc thí nghiệm về những lời tiên đoán của Cayce đă đem lại lợi ích quư báu cho các nhà tâm lư học, học sinh, các nhà văn, những nhân viên điều tra, và cho tất cả các lớp quần chúng. Một tổ chức gọi là A.R.E. (Association For Research and Enlightement, 67th St & Atlantic Avenue, Virginia Beach, VA 23451) được thành lập từ năm 1932 để ǵn giữ những tài liệu quư báu của Cayce. Đây là một tổ chức mà hội viên những người tự do tư tưởng, tiếp tục ghi nhận, thâu lượm các tin tức, thực hành các vô điều tra và thí nghiệm, tổ chức các khóa học, hội thảo và diễn thuyết. Hội này có một thư viện lớn bậc nhất về khoa bán tâm lư, siêu linh học. Hội cũng giữ một bản thống kê trên 300 cuốn sách quư giá về lĩnh vực này
__________________
Helping the Children ! Support the Children ! Remember SCVNLive . SCVNLive : GO and GO ----------------------- Thank you . |
| The Following User Says Thank You to Tuucuong For This Useful Post: | ||
TungVN (03-20-2010)
| ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch TIẾN SĨ ROBERT ALMEDER Tiến Sĩ Robert Almeder, Giáo Sư Triết của Đại Học Đường Georgia, Giám Đốc Trung Tâm Kỹ Thuật của Đại Học này là tác giả của tác phẩm khảo luận về luân hồi "Evidence For Life After Death" "Bằng Chứng Về Đời Sống Sau Khi Chết". Ông cũng là thành viên của Viện Khoa Học Quốc Gia, đă được thưởng hai giải thưởng xuất sắc về Giáo Dục (Outstanding Educator of America Award) năm 1984, từng viết trên 50 bài khảo luận về triết học đăng tải trên các báo như Philosophy of Science, Synthese, The American Philosophical Quarterly, Philosophia, Erkentnis và The History of Philisophy Quarterly. Ông đă xuất bản 8 tác phẩm, trong đó có tác phẩm The Philosophy of Charles Pierce, và A Critical Introduction. Ông đă dùng những chuyện có thật đă được phối kiểm để dẫn chứng trong cuốn "Evidence for Life After Death". Dưới đây là vài chuyện trong tác phẩm trên do nhà Xuất Bản Thomas Springsfield, Illinois phát hành năm 1987. -ooOoo- CÔ BÉ SWARNLATA (Tái sanh sau khi chết được 9 năm) Năm 1951 trong một cuộc du ngoạn, một người Ấn Độ tên Mishra, cư ngụ tại thành phố Panna, thuộc Quận Madhya Pradesh mang theo đứa con gái 3 tuổi cùng vài người khác đến thành phố Jabalpur cùng Quận, cách Panna 70 dậm về phía Nam. Trên đường trở về khi đến địa phận thành phố Katni cách Jabalpur 57 dậm về phía Bắc, Swarnlata bất ngờ đề nghị người tài xế rẽ vào một con đường mà em nói là đường về nhà em nhưng người tài xế hoàn toàn không để ư đến lời yêu cầu này. Sau đó khi mọi người ngừng lại ở Katni để dùng tṛ giải khát, Swarnlata nói rằng mọi người sẽ được dùng tṛ ngon hơn nếu ghé vào nhà em gần đấy. Lời nói của em làm Mishra nghĩ ngợi v́ ông biết là gia đ́nh ông, kể cả ông chưa có ai từng sống ở thành phố Katni cả. Ông càng ngạc nhiên hơn khi nghe con gái thường kể với bạn bè về tiền kiếp em thuộc gia đ́nh Pathak tại Katni. Hai năm sau khi được 5 tuổi em thường múa các vũ điệu và hát các bản nhạc cho người mẹ xem và nghe (sau này cho nhiều người khác). Cha mẹ em đều xác nhận không có người nào dạy em vũ và hát cả. Năm 1958 khi lên 7, t́nh ć em gặp một người phụ nữ từ Katni đến, em cho biết đó là người đàn bà em quen ở kiếp trước. Đến lúc này th́ Mishra mới chịu nhận là con gái ông biết nhiều dữ kiện của kiếp trước. Tháng 3 năm 1959, Giáo Sư Tâm Lư Học Banerjee của Đại Học Rajasthan tại Jaipur bắt đầu điều tra. Sau khi tiếp xúc với Swarnlata tại Chhatarpur, Ông đi Katni làm quen với gia đ́nh Pathak mà Swarnlata cho rằng em là một thân nhân của gia đ́nh này. Trước khi Giáo Sư Bernajee đi Katni, theo lời mô tả của Swarnlata ông đă ghi 9 điểm đặc biệt về nơi của gia đ́nh Pathak. Những chi tiết này hoàn toàn đúng như Swarnlata nói trước khi tới gia đ́nh Pathak. Chắc chắn là trước khi Giáo Sư Banerjee tới Katni, gia đ́nh Mishra không hề biết ǵ về gia đ́nh Pathak cả. Nhận thấy những điều Swarnlata cho biết về tiền kiếp trùng hợp với người con gái của gia đ́nh Pathak có tên là Biya, vợ của Pandley, cư ngụ tại Maihar. Biya đă chết năm 1939 - tám năm trước khi Swarnlata ra đời. Mùa hè năm 1959 vài người trong gia đ́nh Pathak và gia đ́nh Pandley cùng đến Chatarpur, nơi ông bà Misshra và Swarnlata cư ngô. Trước sự chứng kiến của một số điều tra viên, tuy không được giới thiệu nhưng Swarnlata đă nhận ra từng người trong hai gia đ́nh và gọi đúng tên họ. Em đă kể lại những sự việc xảy ra khi Biya c̣n sống mà theo trong gia đ́nh những sự việc này chỉ ḿnh Biya biết được mà thôi. Chẳng hạn như em cho biết em có một cái cái răng cửa bịt vàng. Các người chị dâu của Biya xác nhận là đúng. Lẽ tự nhiên gia đ́nh Pathak coi Swarnlata là hiện thân của Biya mặc dầu trước đây gia đ́nh này không hề tin tưởng là có luân hồi. Sau chuyến viếng thăm của gia đ́nh Pathak và Pandley, cũng trong mùa hè năm 1959, Swarnlata và gia đ́nh đến Katni và Maihar, nơi Biya đă lập gia đ́nh và đă chết. Khi tới Maihar em đă nhận thêm một số người và cho biết những nơi có sự thay đổi so với lúc em c̣n sống. Những tiết lộ này đều được phối kiểm là đúng. Về sau em c̣n tiếp tục đến thăm gia đ́nh em trai của Biya và biểu lộ một sự thương yêu nồng nàn. Tuy nhiên có vấn đề là trước đây Biya chỉ nói được tiếng Hindu trong khi những bài hát và những điệu múa mà Swarnlata tŕnh diễn lại bằng tiếng Bangali. Trong cuộc điều tra này, các điều tra viên nhiều lần đă có ư thử thách để làm cho em lầm lẫn nhưng cuối cùng cũng phải công nhận những điều em nói về tiền kiếp rất chính xác. Trường hợp trên đây đă được phối kiểm với những bằng chứng hiển nhiên, không ai có thể chối căi sự luân hồi của Biya. -ooOoo- BÀ LYDIA JOHNSON (Một Phụ Nữ Hoa Kỳ hiện đại, là một nông dân Thụy Điển ở Thế Kỷ Thứ 16) Năm 1973, Bà Lydia Johnson bằng ḷng giúp chồng trong cuộc thí nghiệm thôi miên. Bà rất đắc lực v́ dễ đi vào t́nh trạng hôn mê. Bác Sĩ Harold Johnson là một nhân vật nổi tiếng và trọng vọng tại Philadelphia. Năm 1971 ông đă dùng thuật thôi miên để chữa trị cho một số bệnh nhân. Khi các cuộc thí nghiệm với người vợ đă tiến hành tốt đẹp, ông quyết định thôi miên vợ để t́m hiểu đời sống tiền kiếp của Bà, nhưng đang nửa chừng th́ bỗng nhiên bà co giật người như bị đánh và sợ hăi hét lên. Bà ôm chặt đầu. Ông phải chấm dứt ngay cuộc thí nghiệm. Hai lần thử lại kết quả vẫn thế. Mỗi lần hồi tỉnh bà đều cho biết đă mục kích thấy cảnh tượng nhiều người già cả h́nh như bị bắt buộc nhảy xuống nước chết đuối. Chính Bà cũng cảm thấy như bị ai đẩy, rồi cú đánh rồi tiếng thét và cơn nhức đầu. Sau mấy lần thí nghiệm đều như trên, Bác Sĩ Harold Johnson đă mời Bác Sĩ John Brown đến thử lại cuộc thí nghiệm. Trước khi cơn đau tái diễn, B.S. John Brown nói với Bà: "Bà c̣n trẻ hơn họ đến 10 tuổi đấy." Và lần này không như lần trước Bà bắt đầu nói nhưng không phải những câu hay những tiếng nói vẫn dùng hàng ngày mà phần lớn là thứ ngôn ngữ lạ làm chẳng ai hiểu được. Giọng nói của Bà y hệt giọng đàn ông. Rồi chính Bà, một phụ nữ 37 tuổi, thốt ra câu: "Tôi là đàn ông". Được hỏi tên Bà cho biết "Jensen Jacoby". Với ngôn ngữ ngoại quốc, xen lẫn vài tiến Anh ngặp ngừng, Bà tả lại cuộc đời tiền kiếp của Bà. Trong lần thí nghiệm này (và trong các lần sau đó), cũng với giọng đàn ông, Bà Lydia Johnson cho biết 3 thế kỷ trước Bà sống tại một làng nhỏ ở Thụy Điển. Những điều Bà nói trong lúc thôi miên đều được ghi âm và ghi chép kỹ lưỡng. Nhiều nhà ngôn ngữ học Thụy Điển được mời lại để phiên dịch lời nói của Jensen Jacoby. Trong các cuộc thí nghiệm sau, Bà Lydia Johnson hoàn toàn chỉ nói tiếng Thụy Điển, một ngôn ngữ mà từ trước đến nay Bà chưa từng biết tới. Khi được hỏi: "Ông làm ǵ để sống?". Jensen Jacoby cho biết ông là một người làm nghề nông ở thế kỷ thứ 16 tại Thụy Điển. Được hỏi: "Ông sống ở đâu?", Jacoby trả lời "Sống ở trong nhà" và khi được hỏi nhà ở đâu, Jacoby trả lời: "Ở Hansen". Tất cả đều được hỏi bằng tiếng Thụy Điển. Jacoby đă tả lại anh ta có cá tính đơn giản phù hợp với một người làm nghề nông . Tầm hiểu của anh chỉ hạn hẹp trong đời sống ở trong làng và một trung tâm thương mại mà anh được đến xem. Jensen Jacoby cho biết anh nuôi bà, ngựa, dở và gà. Anh thường ngày dùng bánh mờ, sóa, phó mát, cá hồi và bánh ngọt làm bằng hột cây anh túc do Latvia, vợ anh ta nấu nướng. Jacoby đă tự tay cất một căn nhà bằng đá để ở và vợ chồng anh không có con. Mẹ của Jacoby là người Na Uy và Jacoby là một trong ba người con trai của gia đ́nh. Jacoby đă sống tự lập. Một vài vật dụng được mang đến trong khi Bà Lydya Johnson c̣n đang bị thôi miên. Bà được yêu cầu mở mắt ra để lựa chọn các vật dụng này. Là hiện thân của Jensen Jacoby, Bà đă chọn một chiếc thuyền mẫu của Thụy Điển ở Thế Kỷ Thứ 17, một cái đấu bằng gỗ để dùng trong việc mua bán lựa mờ thời cổ, 1 cây cung và tên và những hột cây anh túc. Các dụng cụ tối tân chẳng hạn như cái ḱm th́ Bà từ chối v́ không biết cách xử dụng. Kết quả thí nghiệm về thôi miên trên đây đă chứng minh được Bà Lydia Johnson đă là hiện thân của Jensen Jacoby, một nông dân ở Hansen, Thụy Điển chết cách đây ba Thế Kỷ. -ooOoo- CẬU BÉ BISHEN CHAND Bishen Chand sanh năm 1921 trong một gia đ́nh có tên là Ghulam ở Thị xă Bareilly, Ấn Độ. Khi được 1 tuổi rưỡi, Bishen Chand thường hay hỏi về Thị Xă Philbhit, một thành phố cách Bareilly 50 dậm. Không một ai trong gia đ́nh Ghulam (Bishen Chand) quen biết người nào tại thành phố này cả. Bishen Chand đ̣i gia đ́nh chở em đến thành phố này v́ em tin chắc rằng kiếp trước em đă sống ở đó. Thời gian trôi qua, Bishen Chand vẫn không ngưng nói chuyện về tiền kiếp của ḿnh tại Thành Phố Philbhit. Gia đ́nh em rất khó chịu phải nghe câu chuyện lập đi lập lại nhiều lần. Vào mùa hạ năm 1926, Bishen Chand được 5 tuổi, em nói là em nhớ lại rất rơ ràng tiền kiếp của ḿnh: em là con một vị điền chủ giàu có tên là Laxmi Narain. Em bảo rằng em c̣n nhớ có một người chú tên là Har Narain sau này trở thành Cha của Laxmi Narain. Em tả lại ngôi nhà mà em đă sống, có 1 pḥng dùng làm nhà th́ và nhiều pḥng khác dành cho phụ nữ. Ḥng ngày em thường hay ca hát và nhảy múa với các cô Nautch, những vũ nữ chuyên nghiệp và cũng là những gái mại dâm. Em nhớ lại em thường đến dự tiệc tùng ở nhà người láng giềng có tên Sander Lal, căn nhà có "cái cổng màu xanh lá cây". Một hôm em khuyên cha nên lấy thêm một nàng hầu. Cha Bishen là một thư kỷ của chính phủ nên rất nghèo. Trong khi nhớ về tiền kiếp với đời sống sung túc, giàu có, Bishen càng bực bội với cuộc sống hiện tại túng bấn nghèo nàn. Thỉnh thoảng em khước từ không dùng những món ăn mà theo em các người hầu hạ (trong tiền kiếp của em) cũng chẳng dùng. Bishen đ̣i ăn thịt cá trong khi nhà nghèo không có nên em thường sang hàng xóm để ăn. Những quần áo vải em bỏ một bên mà đ̣i quần áo lụa (em cho rằng quần áo vải cũng chẳng đáng cho các người hầu hạ của em mặc). Xin tiền cha, cha không cho, em khóc lóc. Một hôm cha của Bishen nói rằng ông có ư định mua một chiếc đồng hồ và em bảo: "Cha à, đừng mua, khi nào về Philbhit con sẽ lấy cho cha 3 cái đồng hồ tốt của Hiệu Muslim mà con đă thành lập." Bishen c̣n cho biết thêm tên người chủ tiệm đồng hồ. Chị Bishen lớn hơn em 3 tuổi, một lần đă bắt gặp em lấy rượu mạnh uống (mặc dù rượu này cất trong tủ chỉ dùng để làm thuốc). Em nói với người chị là em có thói quen uống rượu mạnh, ở tiền kiếp em thường uống rượu mạnh. Về sau em c̣n cho biết là ở tiền kiếp em có một nàng hầu (em hiểu sự khác biệt nàng hầu và vợ) tên là Padma. Mặc dầu Padma là gái mại dâm nhưng em rất mực thương yêu. Em c̣n hănh diện khoe là em đă giết một người đàn ông từ nhà Padma đi ra. Trí nhớ về tiền kiếp của Bishen đă lọt đến tai Ông K.K.N. Sahay, một luật sư ở Bareilly. Ông đă đến nhà Bishen Chand và ghi chép tất cả những điều em nói. Sau đó ông đưa Bishen, người cha và người anh của em đi Philbhit. Luật Sư Sahay và gia đ́nh Bishen đă t́m được đúng ngôi nhà của Laxmi Narain. Laxmi Narain, người mà Bishen nhận là tiền kiếp của ḿnh đă chết được gần 8 năm. Một số đông đồng bào đă tụ tập tại đây khi nghe tin Luật Sư Sahay và gia đ́nh Bishen tới Philbhit. Hầu hết mọi người trong vùng đều nghe tiếng giàu có của gia đ́nh Narain và tính t́nh phóng đăng của người con trai tên Laxmi. Laxmi Narain đă gian díu với Padma, cô gái mại dâm (hiện c̣n sống tại đó) và v́ ghen tuông Laxmi đă bắn chết t́nh địch. Gia đ́nh Narain giàu có thế lực, nên Laxmi Narain được trắng án. Tuy nhiên vài tháng sau Laxmi Narain đă chết v́ bệnh lúc 32 tuổi. Khi đem em đến trường, Bishen đă chạy ngay vào pḥng mà trước đây Laxmi Narain đă từng học. Một người đưa cho em tấm h́nh có chụp học sinh trong trường, Bishen đă nhận ra 1 người bạn có hiện diện giữa đám đông. - và khi người này hỏi về thầy giáo th́ Bishen đă tả đúng là thầy giáo th́ mập và có râu quai nón. Tại đây Bishen đă nhận ra nhà của ông Sander Lal mà em đă tả lúc trước (trước khi đi Philbhit) có cổng xanh lá cây. Luật Sư Sahay khi đăng tải vụ này trên tờ báo quốc gia "The Leader" vào tháng 8 Năm 1926 là chính ông đă đến tận nơi và tận mắt thấy cái cổng của gia đ́nh Sander Lal mầu xanh lá cây. Em cũng chỉ cho mọi người biết cái sàn mà Laxmi Narain đă cùng ca hát và nhảy múa với các cô gái Nautch. Các người bán hàng nơi đây cũng đều xác nhận. Cũng trên tờ báo "The Leader" Luật Sư Sahay viết rằng tên cô gái điếm Padma mà Bishen đă nói là người t́nh mà em rất đỗi yêu thương cũng đă được đám đông hiện diện hôm ấy công nhận là đúng. Trong ngày hôm đó v́ muốn thử Bishen, người ta đă đem đến truớc mặt em một căp trống Tabbas. Cha của Bishen cho biết là từ khi sanh ra cho đến bây giờ Bishen chưa bao giờ được nh́n thấy loại trống Tabbas này cả. Trước sự kinh ngạc của gia đ́nh và của mọi người Bishen Chand đă chơi trống một cách thành thạo chẳng khác ǵ Laxmi Narain khi c̣n tại thế. Khi mẹ của Laxmi Narain gặp Bishen th́ quả là một cảm t́nh sâu đậm đă phát sanh gióa hai người. Bishen đă trả lời tất cả các câu hỏi của Bà Mẹ Laxmi Narain (chẳng hạn như có lần em đă ném các quả dưa muối). Bishen đă nói tên và tả người đầy tớ hầu ḿnh thuở trước và c̣n cho biết giai cấp của người này. Sau này em cho biết em thương yêu Bà Mẹ Laxmi Narain hơn là người mẹ đă sanh ra em hiện nay. Cha của Laxmi Narain, trước khi chết, có chôn một số của cải nhưng mọi người trong gia đ́nh không biết ở đâu. Khi được hỏi tới vụ này, em đă dẫn mọi người đến một căn pḥng của gia đ́nh. Tại đây người ta đă t́m được 1 kho toàn những đồng tiền vàng chứng tỏ quả là em đă sống tại nhà này ở tiến kiếp. Khi nghiên cứu vụ này Stevenson (Tiến Sĩ Ian Stevenson, Chuyên Gia Khảo Cứu Luân Hồi) đă khẳng định đây là một trường hợp rất có ư nghĩa bởi v́ hồ sơ c̣n được lưu giữ tại Văn Pḥng một Luật Sư đáng tin cậy và nhiều nhân vật chính hiện c̣n sống và sự phối kiểm tin tức của Bishen có thể thực hiện được. Rất nhiều người biết Laxmi Narain hiện c̣n sống và biết rơ ràng khi Bishen nói về những kư ức của em. Hơn thế nữa theo Stevenson đây không phải là một vụ giả tạo v́ gia đ́nh Bishen Chand không có lợi lộc ǵ trong vô liên hệ với gia đ́nh Laxmi Narain đă bị sa sút từ khi Laxmi Narain từ trần. Bishen Chand quả là tiền thân của Laxmi Narain. -ooOoo- SHANTA DEVI Shanti Devi sanh năm 1926 tại thành phố có Dehli. Năm lên 3 tuổi em thường kể lại cho gia đ́nh nghe về tiền kiếp của em. Shanti nói kiếp trước em lấy một người chồng tên là Kendarnarth sống ở gần Muttra. Em có hai con và em chết khi sanh đứa con thứ ba vào năm 1925. Shanti đă mô tả căn nhà trước đây em từng sống cùng chồng và các con tại Muttra. Shanti nói tên của em ở tiền kiếp là Ludgi. Em mô tả các người thân bên em cũng như bên chồng em ở tiền kiếp, cách sinh sống của họ như thế nào và bị chết ra sao. Việc Shanti Devi tái sanh xảy ra rất mau, một năm sau khi chết nên kư ức của em ở tiền kiếp c̣n rất rơ ràng, mới mẻ. V́ thấy Shanti Devi cứ lập đi lập lại nhiều lần về tiền kiếp của ḿnh nên Kishen Chand, người cậu của em đă gửi thư đi Muttra theo địa chỉ Shanti Devi cho biết để xem thực hư ra sao. Thư đến tay ông Kendarnarth, một người góa vợ và con đang sầu muộn v́ người vợ tên Ludgi vừa chết trong khi sanh đứa con thứ ba năm 1925. Vốn là người theo Ấn Độ Giáo chính thống nên ông không chấp nhận vợ ông Ludgi đă luân hồi và trở thành Shanti Devi ở Dehli nhưng ông không khỏi hoài nghi v́ có sự trùng hợp này. Để t́m hiểu sự thực, ông Kendarnarth đă nhờ người em họ tên Lal (sống ở Dehli) đi điều tra và đă hỏi về cô bé Shanti Devi này. Lấy cớ đi buôn bán, ông Lal đă t́m được đến nhà Shanti Devi. Vừa trông thấy ông Lal, khi ra mở cửa, em đă ̣a khóc và ôm choàng lấy ông. Bà mẹ Shanti Devi cũng chạy vội ra, ông Lal chưa kịp mở miệng th́ Shanti Devi (lúc này 9 tuổi) nói với mẹ: "Thưa mẹ đây là người em họ của chồng con. Hồi c̣n ở Muttra, chú ấy và chúng con không ở xa nhau lắm, nhưng nay chú ấy đă chuyển về Dehli. Con rất sung sướng gặp lại chú ấy. Chú ấy phải vào nhà. Con muốn biết tin tức của gia đ́nh con." Sau khi được em kể lại những chuyện thuộc tiền kiếp của em, Ông Lal xác nhận là đúng nên đă đề nghị ông Kendarnarth đem người con cưng đến Dehli để thăm Shanti Devi. Khi ông Kendarnarth cùng người con trai tới nhà Shanti Devi th́ Shanti Devi đă ôm hôn họ và đă gọi họ bằng các tên thân yêu. Shanti Devi đă đối xử với ông Kendarnarth như một bà vợ hiền. Em đă mời ông dùng bánh bích quy với phó mát. Bị xúc động Ông Kendarnarth đă không ngăn được nước mắt. Shanti Devi đă đă dùng những câu nói mà trước đây Ludgi vẫn sử dụng hằng ngày để an ủi ông, vè về ông. Câu chuyện đă làm cho báo chí và dư luận xôn xao. Các nhân viên điều tra đă đưa Shanti Devi đi Muttra và yêu cầu em dẫn họ về cái nhà mà em đă từng ở và đă chết tại đó ở tiền kiếp Khi xe lửa vừa tới Muttra, Shanti Devi sung sướng ̣a khóc và dở tay vẫy một vài người đứng trong sân ga. Em cho các điều tra viên biết một người là mẹ chồng và một người là anh chồng. Em đă nói đúng. Điều quan trọng hơn nữa là, vừa từ trên xe lửa bước xuống, thay v́ dùng tiếng Ấn Độ Hindustrani như em đă được học tại Dehli th́ Shanti Devi đă dùng tiếng địa phương Muttra mà em chưa từng bao giờ được dạy dỗ để nói chuyện với mọi người. Là hiện thân của Ludgi đă cư trú tại Muttra, nên em đă nói được tiếng địa phương này. Sau đó Shanti Devi đă dẫn các điều tra viên về nhà Kendarnarth và c̣n cho biết thêm các chi tiết khác mà chỉ có ḿnh Ludgi biết chẳng hạn khi ông Kendarnarth hỏi Shanti Devi trước khi chết Ludgi có dấu mấy cái nhẫn nơi nào. Shanti Devi cho biết những chiếc nhẫn đó được bỏ trong một cái b́nh và chôn dưới đất của căn nhà có. Các nhân viên điều tra đă t́m thấy những chiếc nhẫn đó. Trường hợp luân hồi này đă được tŕnh bày trước dư luận báo chí thế giới và là một đề tài sôi nổi trong việc khảo cứu tại nhiều trường học. -ooOoo- NHỮNG HỒN MA CỦA CHUYẾN BAY 401 Trong đêm thảm khốc 28 Tháng 12 Năm 1972 chiếc phi cơ 401 của Hăng Eastern Airlines đă bị rớt xuống vùng Everglades, Tiểu Bang Florida. Tất cả 101 người vừa phi hành đoàn vừa hành khách đều tử nạn. Sau đó 2 tháng, Hồn Ma Bob Loft, viên phi công chính và Don Repo, viên phi công phụ đă xuất hiện trên một phi cơ khác cùng đường bay. Theo ông John Fuller, nhân viên phụ trách việc điều tra tai nạn nói trên thi hai hồn ma này đă xuất hiện nhiều lần, nhất là trên chiếc phi cơ 318 mang động cơ L-1011 sử dụng một số phụ tùng cũng như vật liệu c̣n lại của chiếc 401. Một lần, khi chiếc phi cơ 318 chuẩn bị cất cánh từ Newark đi Miami, viên phi công phụ đă hoàn tất việc kiểm soát lần chót cùng viên phi công chính bước vào pḥng lái. Thực phẩm đă được cung cấp đầy đủ. Mọi công tác chuẩn bị đă xong. Máy bay chỉ c̣n chờ cất cánh. Như thường lệ cô chiêu đăi viên chính đếm lại số hành khách của chuyến bay. Cô thấy dư một người. Nơi dẫy ghế hạng nhất, có một người ăn mặc như phi đoàn trưởng của hăng đang ngồi. Cô nghĩ có lẽ vị này dă làm xong nhiệm vụ và trở về Miami nên khỏi mua vé, v́ lẽ đó số hành khách đă dư ra một người. Cô thấy phải báo cáo cho vị khách này tên ông không được liệt kê trên danh sách hành khách. Cô lại gần và hỏi xem có phải Ông đă được phép ngồi trên loại ghế Jump Seat (loại ghế tự động có thể nhảy dù ra ngoài khi máy bay gặp nạn) của dẫy ghế hạng nhất để trở về Miami hay không? Nhưng Ông không trả lời và điềm nhiên nh́n thẳng về phía trước. Cô hỏi thêm lần nữa. Ông vẫn không trả lời, vẫn nh́n thẳng phía trước mặt. Thấy lạ, cô liền báo cáo ngay cho vị giám thị trưởng. Vị này và cô cùng tiến về phía phi đoàn trưởng lạ lùng cũng hỏi lại như trên nhưng cũng như hai lần trước không được trả lời. Viên phi đoàn trưởng này nh́n chung không có ǵ khác lạ, duy có một điều là Ông có vẻ rụt rè ngơ ngác. Một trong hai người chạy vào pḥng lái tường tŕnh sự việc cho viên phi công chính (tức phi đoàn trưởng của chuyến bay). Ông John Fuller nhấn mạnh là có khoảng 6 hành khách ngồi gần vị khách này đều hiếu kỳ muốn biết sự việc. Viên phi công chính biết rất rơ là không hề c̣n một vị phi công nào khác ngoài phi hành đoàn của chuyến này, có nghĩa là vị khách lạ này không có giấy tờ hợp lệ. Vừa đi Ông vừa nghĩ như vậy và tiến về phía vị khách. Viên giám thị và cô chiêu đăi viên đứng kế bên. Ông cúi xuống nh́n mặt vị khách. Đột nhiên máu Ông như muốn đụng lại. Ông hét lên: "Trời Ơi! Chính là Bob Loft đây mà!". Toàn thể dẫy ghế hạng nhất im phăng phắc. Trước mắt mọi người, vị khách lạ lùng bỗng dưng biến mất. Viên phi công chính trở về pḥng điều hành, ngưng việc cất cánh, kiểm soát lại một lần nữa, nhưng vô ích, vị khách lạ vẫn mất dạng. Sau đó chuyến bay vẫn tiếp túc cuộc hành tŕnh về Miami. Tất cả hành khách lẫn phi hành đoàn đều hết sức kinh hăi. Khi về tới Miami, 3 nhân viên của chiếc 318 (cô chiêu đăi viên, vị giám thị và viên phi công) có xem lại sổ ghi các biến cố xảy ra trong chuyến bay th́ lạ thay các trang giấy có ghi rơ ràng sự việc trên đă hoàn toàn biến mất. (Theo luật lệ của FAA - Cơ Quan Giám Sát Luật Lệ Không Vận, th́ mỗi chi tiết xảy ra trong chuyến bay đều phải ghi hết vào sổ). Bắt đầu từ vụ này, sau mỗi chuyến bay, người ta đă lấy báo cáo ghi sổ xếp ngay vào hồ sơ (Luật Lệ này trái với nguyên tắc của Hẫng Eastern từ trước tới giờ). Một lần khác nữa, hồn ma Bob Loft cũng xuất hiện trên phi cơ 318 đứng giữa chiêu đăi viên và phi công chính, làm họ sợ hăi phải hủy bỏ chuyến bay. Viên phi công phụ Don Repo cũng xuất hiện trên Phi cơ 318 nhiều lần. Một thời gian sau, hồn ma phi công chính Bob Loft không c̣n thấy nữa, nhưng người ta vẫn thấy Don Repo cho đến 2 năm sau ngày chuyến phi cơ 401 lâm nạn. Sau đây là vài sự việc xảy ra do Ông John Fuller ghi nhận; những sự việc đáng kể nhất đă xảy ra trước mắt một số người. Người ta tính có tới 12 lần hồn ma Don Repo xuất hiện cho đến cuối năm 1973. Thường thường Don Repo xuất hiện ra để giúp đỡ các cô chiêu đăi viên hay các nhân viên cơ khí sửa chữa các trục trặc kỹ thuật. Don Repo xuất hiện như một người bạn tốt, thích giúp đỡ mọi người. Có nhiều lần người ta thấy Don Repo tṛ chuyện với một số người trên máy bay. Sau đây là một sự việc xảy ra có sự chứng kiến của một nữ hành khách đi vé hạng nhất của chiếc phi cơ 318 từ Nữu Ước về Miami. Máy bay đang c̣n trên phi đạo. Nhân viên phụ trách đếm số hành khách đang tiến về dẫy ghế hạng nhất. Nữ hành khách nói trên ngồi cạnh một nhân viên phi hành trong bộ đồng phục kỹ sư cơ khí của Hăng Eastern. Có điều ǵ đó làm cho bà ta lo ngại. Viên kỹ sư gương mặt xanh sao, có vẻ như đang bệnh. Bà ta nói rằng nếu Ông cảm thấy không được khoẻ, Bà sẽ gọi một chiêu đăi viên đến giúp đâ Ông, nhưng Ông làm ngơ không trả lời. Bà liền gọi cô chiêu đăi viên đến. Cô xác nhận trông Ông như một người đang bệnh. Cô hỏi Ông có cần ǵ không th́ Ông đă biến mất trước sự sửng sốt của nhiều hành khách. Riêng vị nữ hành khách ngồi cạnh bị khích động vô cùng. Vị nữ hành khách và nhân viên phi hành đă khám phá ra vị kỹ sư cơ khí ngồi dẫy ghế hạng nhất đó chính là Don Repo. Năm 1974 một phi đoàn trưởng đă xác nhận với ông John Fuller chính ông đă được một kỹ sư cơ khí phi hành ngồi trên một ghế Jump Seat của chiếc L-1011 cho biết hệ thống điện của máy bay đang trục trặc. Ông ra lệnh kiểm soát thêm một lần nữa th́ khám phá được một mạch điện bị hư. Sau đó ông nh́n lại th́ thấy chính là viên phi công phụ Don Repo. Thêm một chuyện xảy ra trong chuyến bay đi Mexico City vào tháng 2 năm 1974. Chiếc 318 đang sẵn sàng cất cánh. Một nữ nhân viên phi hành chợt nh́n thấy gương mặt của Don Repo nơi cánh cửa chính. Gương mặt nh́n thẳng mặt cô. Cô chạy lên cầu thang mời một nhân viên phi hành xuống xem. Cả hai vẫn nh́n thấy gương mặt trên cánh cửa. Họ liền báo với Ban Điều Hành. Viên kỹ sư cơ khí của Ban Điều Hành lập tức xuống xem, vẫn c̣n thấy gương mặt của Don Rep đang đăm đăm nh́n ông và nói với ông rằng: "Hăy cẩn thận! Máy bay có thể bị bốc cháy!" Rồi gương mặt biến mất. Quả đúng như vậy, trong lúc cất cánh, một máy bị cháy. Chiếc 318 chỉ c̣n chạy bằng một máy mà thôi. Những cấp thẩm quyền của Hăng Eastern cho rằng những hồn ma của chiếc 401 (Bob Loft và nhất là Don Repo) chỉ là chuyện nhảm nhí (có lẽ v́ sợ ảnh hưởng đến việc thương mại của Hăng) và nói rằng không một ai trông thấy cả nhưng lại từ chối không cho ai xem sổ ghi các biến chuyển của các chuyến bay liên hệ. Người ta chỉ biết rằng, khi tất cả các đồ phụ tùng c̣n lại của chiếc máy bay bị rớt 401 đă được tháo gỡ khỏi chiếc 318, th́ các hồn ma nói trên không c̣n thấy xuất hiện nữa. Sự việc trên cũng giống như sự việc hồn ma Butler (Bà George Butler) ở một làng tại Machiasport, Tiểu Bang Maine, chết rồi nhưng c̣n xuất hiện nhiều lần trước sự chứng kiến của hàng trăm dân địa phương. Mục sư Cummings đă nhận được khoảng 30 bản tường tŕnh. Hồn ma của chuyến bay 401 cũng đă xuất hiện nhiều lần trong nhiều trường hợp trong một thời gian khá dài trước một số người được mục kích.
__________________
Helping the Children ! Support the Children ! Remember SCVNLive . SCVNLive : GO and GO ----------------------- Thank you . |
| The Following User Says Thank You to Tuucuong For This Useful Post: | ||
TungVN (03-20-2010)
| ||
|
#4
|
||||
|
||||
|
Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch TIẾN SĨ RAYMOND A. MOODY Ca Sĩ Elvis Presley, một nghệ sĩ siêu đẳng Hoa Kỳ chết ngày 16 Tháng 8 Năm 1977 tại nhà riêng ở Graceland, Memphis, Tennessee, Hoa Kỳ đă khiến hàng triệu người trên thế giới ḅng hoàng xúc động. Ảnh hưởng tâm linh của Elvis đối với quảng đại quần chúng Hoa Kỳ rất rộng lớn Tiến Sĩ Raymond A. Moody đă bỏ ra trên 9 năm để sưu tầm, điều tra, nghiên cứu và viết cuốn sách "Elvis Presley After Death "( Elvis Presley Sau Khi Chết) Tiến Sĩ Raymond A. Moody Jr. tốt nghiệp Đại Học Đường Virginia với văn bằng B.A., M.A., và Ph. D. (Tiến Sĩ). Sau khi dạy triết cho Đại Học Đường East Carolina, ông lại tốt nghiệp Y khoa Bác Sĩ Đại Học Đường Georgia vào năm 1976 và là Bác Sĩ Nội Trú của Y Khoa Đại Học Đường Virginia. Ông đă xuất bản những cuốn sách nổi tiếng như Life After Life, Reflections on Life After Life, có cả hàng triệu độc giả trên thế giới. Chúng tôi xin trích dịch một vài chuyện có thật trong cuốn Elvis Presley After Death do nhà Xuất Bản Peach Tree phát hành năm 1987. -ooOoo- JEREMY MORGAN, HIỆN THÂN CỦA ELVIS Vào mùa đông năm 1985, tôi đến thăm Nancy Morgan và Jeremy, con trai nàng tại căn nhà nhỏ của nàng tại miền đồng quê Oregon Lúc đó nàng 33 tuổi và Jeremy th́ 6 tuổi rưỡi. Hai tuần lễ trước đây, Nancy gọi điện thoại báo cho tôi biết nàng có nhiều chứng nghiệm bất thường với Elvis. Nàng không chịu tiết lộ bằng điện thoại và nghĩ là tôi nên đến gặp nàng th́ thuận tiện hơn cho việc nghiên cứu của tôi. Nàng mời tôi đến nhà và tôi nhận lời. Tôi tới nơi Nancy và Jeremy ra cửa chào tôi và dẫn tôi vào pḥng khách. Tôi nhận thấy có mấy bức tranh của Elvis treo trên tường. Ḷ sưởi xây bằng loại gạch cổ khá đẹp với cái hầm đựng củi. Nancy, người dáng cao, tóc nâu duyên dáng, với cặp mắt xanh, tươi cười cho tôi biết nàng đă ly dị chồng từ khi Jeremy chưa sanh ra đời và chồng nàng là một dân chài. Nàng không nghe tin tức ǵ về người chồng từ khi ly dị và nàng nuôi Jeremy một ḿnh. Nàng cho biết nàng là người ái mộ Elvis từ lâu. Nàng có rất nhiều dĩa nhạc của Elvis và xem tất cả các phim do Anh đóng. Đến đây nàng đi ngay vào vấn đề, nàng tuyên bố với một một luận điệu rất thành thực và cả quyết là Jeremy Morgan, con nàng là hiện thân của Elvis. Tôi đang ngồi tại ghế sô-pha và ngạc nhiên sao nàng có thể đi đến một kết luận lạ kỳ như vậy, nàng nói nhanh và mạnh dạn. " Khi Elvis chết, tôi cảm thấy như mất đi một người bạn thân nhất. Tôi lấy Willie, chồng tôi ngay khi học hết trung học, ngoài việc Elvis chết, tôi chống đối chồng tôi suốt cả năm 1977. Khi Elvis chết tôi quá thất vọng và lâm bệnh. Tôi tưởng tôi sẽ chết. Willie và tôi bắt đầu đến gặp vị mục sư của chúng tôi vào tháng 10 năm 1977. Chúng tôi đến gặp vị mục sư hai lần mỗi tuần để nói về chuyện hôn nhân của chúng tôi. Vào mùa Giáng Sinh năm đó, tôi có đi lại với chồng tôi và tôi mang thai. Tôi nới với Willie, chồng tôi, anh hết sức giận giữ. Anh la tôi và bảo tôi không cẩn thận và cho là lỗi tại tôi. Tuy nhiên anh cũng ở với tôi thêm vài tháng và sau đó anh bỏ đi và từ đó tôi không c̣n nghe tin ǵ về anh nữa. Người anh em họ của anh cho tôi biết anh đi biển làm nghề chài lưới. Tôi nhớ thương Elvis hơn là tôi nhớ thương chồng tôi. Trong khi mang thai, nhiều đêm không ngủ tôi đă khóc v́ nhớ thương Elvis. Tôi khóc lóc: "Elvis bây giờ Anh ở đâu, sao Anh nỡ bỏ mẹ con tôi?" Nhiều đêm tôi mơ thấy Anh. Một đêm tôi mơ thấy Anh, khi tỉnh dậy tôi tưởng Elvis vẫn ở trong pḥng ngủ với tôi. Trong lúc mang thai Jeremy không có ǵ xảy ra để tôi tin đứa nhỏ trong bông tôi là Elvis cả. Một lần tôi nghĩ là sau khi sanh, tôi sẽ đặt tên đứa nhỏ là Elvis, nhưng tôi lại nghĩ: "Không,tôi không tài nào chịu đúng được mỗi khi gọi con tôi lại nghĩ là Anh đă chết." Tôi được biết là tôi sẽ sanh ngày 12 tháng Tám,nhưng tôi tưởng rằng tôi sẽ sanh vào ngày 16 tháng Tám tức đúng một năm sau khi Anh chết. Đến ngày 12, tôi vẫn chưa sanh, tôi yên chí sẽ sanh vào ngày 16. Ngày 16, vẫn chưa sanh. Đến ngày 18, tôi đau bông, em tôi và chồng nó chở tôi đi bệnh viện đêm đó và tôi sanh lúc 7 giờ 30 chiều tức một năm 2 ngày sau khi Elvis chết. Khi sanh Jeremy sanh tôi chưa bao giờ có ư nghĩ Jeremy là Elvis. Jeremy là một đứa trẻ ngoan thực sự tinh khôn. Nó ngủ nhiều. Không có vấn đề ǵ khó khăn với nó. Nó thích chơi với đồ chơi của nó trong nôi. Tôi thường nói chuyện với nó trong khi tôi ủi đồ. Tôi thường vặn nhạc Elvis cho nó nghe và nó thích lắm, thường nhảy cỡn lên, khi nghe nhạc và mỉm cười. Giáo Phái Baptist (Tẩy-Lễ) của một nhà th́ đă dậy dỗ tôi. Mẹ tôi nói nhiều về truyền thống và tôi được rửa tội thánh thần khi lên 14 tuổi. Luân hồi không bao giờ được dạy hay nói đến trong nhà th́ và tôi cũng không bao giờ tin tưởng hăy nghĩ về luân hồi cả. Khi tôi biết Jeremy là hiện thân của Elvis là lúc Jeremy gần 18 tháng. Một hôm tôi đang chơi với nó, tôi nh́n thấy có cái ǵ trong cặp mắt nó. Đúng là cặp mắt của Elvis. Tôi nghĩ: "Phải chăng Jeremy là hiện thân của Elvis và Elvis đă trở lại?" Tôi ḅng hoàng, và tôi không biết tại sao. Jeremy lúc nào cũng thích nhạc Elvis. Mắt nó giống như Elvis. Tôi nghĩ rất nhiều đến Elvis trong lúc mang thai và một đêm tôi có cảm giác Elvis ở trong pḥng tôi. Rồi tôi nh́n thẳng vào mắt Jeremy và hỏi: "Jeremy, có phải con là Elvis không?" Nó cười, tôi chắc chắn nó hiểu tôi nói ǵ. Nó trả lời "Ờ hử" gật đầu. Tôi xúc động những muốn kể cho mọi người cùng biết, song tôi bỏ ư định ấy v́ nghĩ là khi tôi nói ra chắc mọi người cho tôi là mất trí. Tôi chỉ kể cho người duy nhất là em gái tôi nghe mà thôi. Tối hôm đó tôi với Jeremy đến nhà cô em gái. Chúng tôi ngồi trong nhà bếp. Tôi hỏi em tôi: "Ruth à, em có thấy Jeremy có ǵ đặc biệt không?" Em tôi trả lời: "Em không biết, nhưng đôi khi em thấy Jeremy giống như Elvis, có thể Elvis tái sanh thành Jeremy." Tôi thở dài nhẹ nhỏm khi nghe em tôi nói. Em tôi cũng thấy giống như tôi. Em tôi c̣n cho biết có một tối em tôi và chồng nó giữ Jeremy giúp tôi v́ tôi đi vắng, Jeremy nói: "Elvis thích đậu phọng và chuối." Chính chúng tôi đă không biết điều đó cho đến vài tháng sau chúng tôi mới khám phá ra sự thật này. Elvis thích đậu phọng và bánh kẹp chuối thực. Tôi đọc được tin này vài tháng sau buổi tối trong bếp nhà cô em gái tôi. Tại sao Jeremy lại biết về Elvis trong khi chúng tôi lại không biết?" Từ đó về sau trong thâm tâm, tôi lúc nào cũng nghĩ Jeremy chính là Elvis. Tôi biết Jeremy cũng sẽ làm một cái ǵ nổi bật trong đời nó. Nó có thể không phải là một ca sĩ, nhưng sẽ được nổi tiếng và sẽ được người đời ngưỡng mộ. Chắc ông không tin, nhưng sự thật sẽ như vậy, rồi cả thế giới sẽ thấy điều đó. Năm vừa qua tôi đến gặp một nhà siêu linh học. Bà này chưa hề biết ǵ về tôi mà tôi cũng không để lộ chút nào cho bà ta biết. Bà ta nắm tay tôi và nói nhiều điều mà chỉ ḿnh tôi biết. Điều cuối cùng của bà ta nói ra là bảo tôi có một đứa con trai, đứa trẻ này thật đặc biệt, kiếp trước là một người nổi tiếng. Bà nói hàng triệu người đă yêu mến người này và thằng nhỏ này cũng sẽ trở nên lừng lẫy. Tôi không nói cho bà ta biết nhưng tôi biết bà ta muốn nói về chuyện ǵ. Tôi không kể cho bà ta biết Jeremy chính là hiện thân của Elvis. V́ thế tôi cố gắng hết sức ḿnh để cung cấp cho Jeremy những ǵ cần. Một ngày nào đó Jeremy sẽ trở nên một nhân vật quan trọng và được dân chúng mến mộ." Khi Nancy chấm dứt câu chuyện của nàng, nàng đứng dậy và đi xuống bếp. Một lát sau nàng trở lại với một khay đầy bánh ḿ kẹp. Trong khi ba chúng tôi ăn, tôi nói chuyện với Jeremy. Tôi muốn biết phản ứng của em. Tôi hỏi: "Này Jeremy, em nghĩ thế nào về câu chuyện của mẹ em kể cho tôi nghe? Em có nghĩ em là Elvis không?" Tôi phải nhận là tôi thật kỳ cục khi đặt câu hỏi này cho một em nhỏ mới 6 tuổi. Jeremy không chút ngặp ngừng trả lời: "Vâng", tôi chính là Elvis. Tôi chết rồi nhưng tôi đă trở lại.' Tôi hỏi: "Em tin tưởng điều này bao lâu rồi?" Em nhớ lúc nào là lúc đầu tiên khi em nghĩ như vậy?" "Lúc nào tôi cũng biết tôi là Elvis ngay từ khi mới sanh". Em bảo đảm với tôi không chớp mắt. "Tôi trở lại để được ở bên mẹ tôi. Mẹ tôi đau khổ v́ tôi, cho nên tôi đă trở về sống với mẹ tôi." Không thể nào nhầm lẫn, Jeremy đă nói bằng một giọng giống như giọng của Elvis. Cách phát âm, nhấn mạnh,chuyển giọng - tất cả đều như hệt Elvis kẻ cả cái giọng nhừa nhựa của vị danh ca này. Tôi suy gẫm không thể nghi ngờ ǵ, Mẹ em đă dạy con học được tất cả giọng nói của Elvis từ khi em c̣n đang nằm trong nôi. Tôi hỏi em rằng khi lớn lên em muốn làm ǵ. Em trả lời: "Tôi chưa biết,cũng có thể là một nhạc sĩ, một diễn viên trên truyền h́nh, cũng có thể là một phi công." Trong khi nói chuyện với em, dần dần tôi thấy h́nh như em đă có thể b́nh tĩnh giữ được sự cảm xúc của em. Em thông minh trên mức trung b́nh, em học khá. Không một người bạn hay một thầy giáo nào biết được sự bí mật lư lịch của em khi tôi hỏi em cho tôi biết. Mẹ em đă dặn ḍ em không nói cho ai hay. Tôi nghĩ hẳn là Nancy đă dạy cho em thâm nhập và khuyến khích em với cách giáo dục em bằng nhạc, cá tính, đời sống của Elvis. Trong gia đ́nh không có người cha, Nancy đă tạo ra "một người cha giả tưởng" cho con dưới h́nh thức một việc ngông cuồng hoàn chỉnh. Việc này đưa đến kết quả là cho cho Jeremy thấy h́nh ảnh một người đàn ông gương mẫu - người này chính là Elvis. Khi tôi sửa soạn ra về, Nancy nói nàng muốn cho tôi xem một việc nữa. "Hăy xem đây!" Nàng vừa nói vừa ra hiệu cho Jeremy và ngay tức khắc Jeremy thi hành vai tṛ của ḿnh. Tôi thích thú chăm chú theo dơi Jeremy; nó bắt đầu hát bản "Don't Be Cruel" (Xin Đừng Độc Ác) bắt trước y hệt như Elvis từ giọng hát, điệu bộ, cách đi ṿng trong một màn tŕnh diễn gần như hoản hảo về động tác và kiểu mẫu của người mẹ anh hững. Khi màn tŕnh diễn chấm dứt, tôi cảm ơn hai mẹ con nàng về sự khả ái và ḷng hiếu khách trong buổi tối không bao giờ quên được này. Tôi ra về, ḷng bâng khuâng suy nghĩ không biết rồi đây họ sẽ ra sao? -ooOoo- JACK MATHEW GẶP THẦN HỒN ELVIS PRESLEY TRÊN ĐƯỜNG MEMPHIS Đầu tiên tôi được nghe Bill Grady, viên quản lư một cơ sở buôn bán phụ tùng xe hơi tại một thành phố nhỏ ở Alabama kể về cuộc gặp gỡ rất ngộ nghĩnh của Jack Matthew và Elvis Presley. Tôi đến đấy để thuyết giảng và tôi cũng có cho biết là tôi chú trọng đến vấn đề thời sự đó trong dịp này. Sau đó Bill Grady đến và sẵn sàng cho tôi biết một chuyện vô cùng lư thú. Bill nói có quen một tài xế lái xe vận tải cỡ lớn tên là Jack Mathew. Jack nói là ông ta thấy Elvis Presley trên xa lộ sau khi Elvis đă chết và c̣n chở Ca Sĩ này nữa. Bill hỏi tôi có muốn nói chuyện với Jack không, Jack ở cách xa đây chừng khoảng 8 dậm tại một thành phố ở Alabama. Tôi trả lời tôi rất muốn gặp Jack, và Bill mời tôi ghé qua cửa hàng của anh sáng hôm sau để biết địa chỉ của Jack, cửa hàng của anh có hồ sơ ghi địa chỉ của Jack. Tôi đến cửa tiệm Bill lối 9 giờ sáng. Bill nh́n tôi mỉm cười, anh đứng sau cái quầy hàng bằng gỗ cây sồi và đưa tôi một mảnh giấy có ghi địa chỉ và số điện thoại của Jack Matthew. Bill mời tôi ngồi nói chuyện chơi một lát và uống cà phê. Trong lúc chúng tôi uống cà phê và tṛ chuyện, Bill cho tôi biết không biết Jack Matthew có chịu tiếp tôi không v́ Jack là một người sống cô đơn, thầm kín. Anh cũng cho tôi biết sức khoẻ của Jack không được tốt, Jack đau bao tử và phổi v́ uống rượu và hút thuốc - biết rơ Jack qua Bill, tôi có thể nói chuyện với Jack dễ dàng hơn. Khi trở về nhà, tôi liên lạc với Jack bằng điện thoại ngay. Bốn tuần qua dù cố gắng điện thoại gặp Jack nhưng vẫn thất vọng không thể nào gặp được Jack. Tôi có vài lần dặn ḍ bà mẹ của Jack nhưng vẫn không được hồi âm. Cuối cùng tôi đành bỏ qua chuyện Jack và cho là Jack không muốn tiếp chuyện tôi. Một buổi sáng vào khoảng 8 giờ, tôi đang ngồi tại văn pḥng th́ điện thoại reo. Một giọng nói khàn khàn như người ngái ngủ vang lên: "Bác Sĩ Moody phải không, tôi là Jack Matthew". Hết sức thích thú, tôi cho Jack biết là tôi là một bác sĩ tâm trí, tôi rất chú trọng đến câu chuyện lạ lùng của Jack và Elvis mà tôi đă được nghe qua do Bill Grady kể lại. Tôi đề nghị được gặp Jack để tôi biết rơ ràng hơn. Jack hỏi tôi nghĩ sao về chuyện này, liệu tôi có gán cho Jack là một "Thằng Điên" hay "Thằng Sạo" chăng. Tôi trả lời là trong công cuộc khảo cứu của tôi tôi đă gặp rất nhiều người tâm lư b́nh thường cho tôi biết những chuyện thật khó tin về Elvis Presley và cảm nghĩ của tôi là tôi không có ư kiến "đúng hay sai" về những chuyện đó, nhưng tôi dám chắc họ là những người rất thành thực với tôi. Jack tán thành và anh hẹn sẽ nói chuyện với tôi trong một ngày gần đây. Ba tuần lễ sau, tôi lại nhận được điện thoại của Jack. Anh báo cho tôi biết hai ngày nữa anh sẽ đến Tennessee. Anh muốn tôi đến gặp Anh tại một trạm xe vận tải gần thành phố. Anh sẽ đến đó vào khoảng 5 giờ chiều hoặc muộn hơn. Tôi nói tôi sẽ đến đó gặp anh và báo anh biết anh sẽ nhận ra tôi là tôi sẽ mặc một áo ấm mầu nâu và đeo một máy thâu băng. Vào đúng ngày hẹn tôi đến trạm xe vận tải vào khoảng 4 giờ 15 chiều; 5 già, 6 giờ rồi 7 giờ cũng vẫn chưa thấy Jack đến. Tôi định ra về th́ vào khoảng 8 giờ kém 20, tôi thấy một người tài xế xe vận tải, cao, gầy, tóc hoa râm, bước vào cửa chính và đang nhớn nhác nh́n quanh. Thấy tôi anh cúi đầu chào và bước tới. Anh mặc quần Jeans xanh, áo sơ mi Flannel sọc xanh, và đi đôi giầy ̣ng cao bồi. Cánh tay phải vắt chiếc áo dạ ngắn sọc đỏ. Có lẽ đă hai ngày anh chưa cạo râu. Khi tới gần bàn tôi ngồi. anh nói vời tôi: "Xin lỗi Bác Sĩ Moody, tôi đến trễ. Dọc đường cách dây độ 100 dậm, xe tôi bị hư, trời lại mưa to quá ". Tôi nh́n qua cửa sổ, trời đang mưa như trút nước đă hơn một tiếng đồng hồ. Jack ngồi xuống và chúng tôi gọi cơm chiều. Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Đầu tiên Jack cho tôi biết là anh đă cai rượu và anh dă phải vào nhà thương cả thảy 3 lần. Hiện giờ anh đă bỏ được rượu khoảng gần một năm nay. Tôi thầm nghĩ, đôi mắt sâu thẵm và chan chứa t́nh cảm chứng tỏ anh là người ghiền rượu. Sau khi dùng cơm xong, anh bật lửa châm thuốc hút. Tôi đề nghị anh nói chuyện về việc chứng nghiệm với Elvis Presley. "Trở lại vào Năm 1980, ngày đó là ngày 20 tháng Chạp, tôi nhớ rơ v́ ngày đó là ngày tôi giao động mà c̣n v́ ngày đó xảy ra trước hai ngày sinh nhật của mẹ tôi ( Ngày 22 tháng Chạp là ngày sinh nhật của mẹ tôi). Thật khẩn trương làm sao v́ tôi phải trở về nhà tại Alabama cho kịp sinh nhật của mẹ tôi. Từ miền cực Tây tôi phải chuyên chở và giao hàng tại Memphis. Tôi lo sợ chẳng may dọc đường xe bị hư th́ tôi không kịp về dự lễ sinh nhật của bà. Tôi dự định xuống hàng tại Memphis hôm 21 và trở về ngay đêm đó. Tất cả gia đ́nh tôi đều về nhà dự lễ sinh nhật của bà và ở lại cho đến ngày Giáng Sinh. Tôi rất lo lắng cho mẹ tôi v́ bà bị bệnh tim vừa nằm 2 tháng bệnh viện để điều trị. Tôi sợ có thể đây là lần sinh nhật cuối cùng của bà. Tôi đang ở với bà. Tôi có lấy vợ được 5 năm và vợ tôi đă bỏ tôi vào năm 1978; từ đó tôi vẫn sống với bà. Đêm ấy tôi lên đường. Trời tối đen như mực. Lúc đó vào khoảng 9 giờ 30, tôi đến cách Memphis chừng một trăm dậm về phía tây. Tôi biết rơ con đường này và dự trữ đến Memphis vào đêm ấy. Bấy giờ, có điều là lạ là tôi rất ít khi cho người đi đường quá giang. Cách nay khoảng sáu năm có lần tôi cho một gă quá giang ở Nevada, tự nhiên gă này nổi khùng chửi mắng tôi. Gă đâm tôi nhưng tôi đánh bật được con dao khỏi tay gă và xô gă xuống lề đường. Tôi là một tài xế xe vận tải độc lập nhưng kể từ dạo đó tôi không cho ai quá giang nữa. Thời buổi này, ông không thể ngừng xe dọc đường cho khách quá giang. Nhưng đêm 20 tháng Chạp lại khác hẳn. Tôi dừng xe lại đổ thêm xăng. Tôi cảm thấy bồn chồn nên xuống xe và đi bộ ṿng quanh để lấy lại sự thư thái. Tôi uống hết hai ly cà phê. Chung quanh trạm xăng đèn pha chiếu sáng rúc, nhưng bên kia đường và phía cánh đồng th́ tối om. Phía đường bên kia có nhiều bụi cây, một vùng toàn cây. Nh́n về phía ấy tôi thấy một ánh sáng. Không phải ánh sáng của một cây đèn bấm mà giống như một vầng ánh sáng phát ra từ những lùm cây. Tôi nghĩ ngợi. Lúc đầu tôi tưởng là đám mây sáng qua các cành cây, nhưng tôi quả không biết ánh sáng trên từ đâu phát ra. Tôi đứng bên đường và đăm đăm nh́n chùm ánh sáng mờ mờ. Rồi bỗng nhiên tôi thấy một người đi đằng trước ánh sáng này. Anh ta đi dọc theo con đường về phía xa lộ. Anh ta mặc áo khoác, tay cặp một gói đồ. Tôi cho là Anh đang đi dọc con đường và bước qua vùng ánh sáng, nhưng ngay lúc ấy tôi thấy Anh ta đang đi trên đường. Có thể Anh từ rừng cây bước ra, Thực tôi không biết Anh từ đâu tới. Tôi vừa đoán có lẽ Anh đang đi dọc con đường trước khi tôi thấy Anh nhưng tôi không biết thật. Thoạt đầu tiên tôi không nh́n thấy chân Anh. Anh đang đi đằng sau vài lùm cây thấp nên tôi chỉ trông thấy phần trên từ hỏng lên tới đầu mà thôi. H́nh như Anh nh́n thấy tôi, tiến tới và băng qua đường. Giờ này không có xe cộ ǵ cả. Tôi đến ngay bên Anh và hỏi: "Anh đi đâu?". Trong ḷng tôi cảm thấy thương hại Anh. Tại sao, tôi không biết. Anh có vẻ lo âu. Tôi nghĩ là Anh không nghe câu hỏi của tôi v́ tôi nói hơi nhỏ nên Anh không trả lời. Tôi lại nói to hơn: "Anh đi đâu?" Lần này Anh nh́n tôi và nói: "Memphis" Tôi hỏi: "Đi nghỉ lễ ở Memphis à?" Anh trả lời: "Vâng tôi đi về nhà thăm cha mẹ tôi". Anh nói giọng Tennessee rất trầm. Tôi không thấy rơ mặt Anh v́ Anh đội một cái mũ lớn, cũng có thể là loại mũ trùm đầu. Tôi không hiểu tại sao Anh lại ở trên con đường cách xa Memphis cả trăm dậm, nên tôi hỏi: "Anh đi bằng ǵ?" Anh trả lời: "Tôi ra xa lộ để xin quá giang." Rồi Anh tiếp tục đi cho đến khi khuất dạng. Tôi trở về trạm xăng, lên xe quay trở về xa lộ. Từ trạm xăng ra xa lộ chừng nửa dậm, nhưng mới đi chừng khoảng một phần tư dậm, tôi đă thấy Anh đang đi bên lề đường bên trái, tay cắp gói đồ. Không suy nghĩ tôi ngừng xe ngay bên cạnh Anh. Tôi quay kính xe xuống, tḥ đầu ra ngoài nói với Anh: "Tôi đi Memphis đây, tôi cho Anh quá giang". Anh cảm ơn tôi, băng qua đường và trèo lên xe. Tôi chạy ra xa lộ, thẳng đường đi Memphis. Nh́n Anh vừa lên xe, tôi có thể nói Anh là người lịch lăm. Anh gọi tôi là "Ngài", vậy "Thưa Ngài' hoặc "Thưa Ngài không". Tôi nghĩ Anh hẳn phải được giáo dục kỹ lưởng. Tôi thật là quá mệt trên suốt quăng đường c̣n lại đi Memphis nhưng nhờ có cà phê mà tôi c̣n tỉnh táo. Chúng tôi nói chuyện huyên thuyên, tôi không nhớ hết, nhưng tôi c̣n nhớ có nói đến âm nhạc mà cả Anh và tôi cùng thích. Anh cho tôi biết Anh đang mong mái gặp cha mẹ Anh. Tôi nói là Anh nghĩ đến mẹ Anh cũng như tôi nghĩ đến mẹ tôi. Cha mẹ là những người gần gủi thực sự. Anh nói với tôi Anh có mấy món quà biếu cha mẹ Anh trong gới đồ Anh đang mang theo. Anh cũng kể với tôi có một thời gian Anh làm tài xế xe vận tải và Anh biết nhiều loại xe. Anh c̣n nói Anh có vài chiếc Cadillacs, nhưng tôi không tin. Tôi nghĩ Anh chỉ là một gă nghèo khổ, muốn làm cho ra vẻ, nhưng tôi không nói với Anh điều đó. Tôi nghĩ thật là chuyện khó tin, một người có mấy chiếc Cadillacs lại phải xin quá giang xe giữa đường như thế này. Chúng tôi rất tương đắc. Tôi cho Anh biết là tôi ghiền rượu. Anh tỏ vẻ thông cảm và cho tôi biết Anh cũng nghiện ma túy, thuốc ngủ, nên rất hiểu tôi. Lúc này trong xe rất tối nên tôi không thấy rơ mặt Anh. Tôi không thể nói Anh bao nhiêu tuổi. Tôi nghĩ Anh chừng 30 hay 35, cũng có thể trẻ hơn. C̣n chừng ít dậm nữa là tới Memphis, những ngọn đèn hai bên đường giúp tôi nh́n thấy Anh rơ hơn. Tôi trông Anh rất quen thuộc. Chắc chắn truớc đây tôi đă gặp Anh. Tôi hỏi Anh muốn xuống đâu. Anh cho tôi địa chỉ, đó là Đại Lộ Elvis Presley. Anh bảo Anh xuống gần đây cũng được. V́ muốn biết Anh là ai nên tôi tự giới thiệu: "Tôi là Jack Matthew". Tôi nh́n Anh khoảng một giây. Lúc tôi vừa nh́n Anh th́ Anh quay lại nh́n thẳng vào mặt tôi và nói: "Thưa Ngài tôi là Elvis Presley". Tôi lạnh cũng và cứng đơ. Mồ hôi vă trên trán và ḷng bàn tay... tôi không thể nói được. Tôi lắp bắp h́nh như câu: "Anh nói chơi đó chứ!". C̣n độ một dậm nữa, tôi sợ quá và không nói nên lời. Tôi không biết sao tôi c̣n có thể lái xe được trong t́nh trạng này. Đúng là Elvis Presley, hay hồn ma Anh. Trông Anh vẫn giống như xưa, như những ngày vui của Anh. Chân tôi run rẩy trong đôi giầy ống. Cuối cùng Anh nói Anh muốn xuống xe và tôi đă ngừng lại để Anh xuống. Tôi đă gặp hồn ma! Tim tôi đập th́nh thịch. Tôi chưa bao giờ đến Graceland cả nhưng hai tuần sau đó, tôi mạnh dạn trở lại Memphis và chạy qua Graceland. Thật là gần chỗ tôi đă ngừng xe để Anh xuống. Đó là câu chuyện của tôi. Tôi không uống rượu hôm xảy ra chuyện đó. Tôi đă bỏ được rượu khoảng một tuần trước khi chuyện đó xảy ra. Tôi thề tôi không uống một giọt rượu nào đêm đó cả. Tôi cũng không dùng một loại thuốc nào đêm đó. " Sau khi Jack kể xong chuyện, tôi đă mất cả tiếng đồng hồ để cật vấn. Tôi muốn biết anh có phải là người ái mộ Elvis trước đêm 20 Tháng 12 Năm 1980 không. Anh trả lời Anh có ái mộ Elvis nhưng anh thích loại nhạc dân ca hơn là kích động nhạc. Những ca sĩ thần tượng của anh là Willie Nelson và Waylon Jennings. Tôi nhận thấy Elvis và Jack có vài điểm tương đồng về cá tính trong đời sống. Thứ nhất là Elvis và Jack cũng gần gủi thương yêu mẹ. Cả hai dều lái xe vận tải và đều thích xe; cả hai cũng ly dị và vương mắc chất độc (rượu, ma túy). Một điểm nữa là Jack gặp sự xuất hiện của Elvis trên con đường hoang vắng, sự lo âu của Elvis cũng như sự băn khoăn lo lắng của Jack trước khi gặp, là làm sao về nhà kịp để đoàn tụ với gia đ́nh. Sau khi nghe tôi tŕnh bầy, Jack rất ngạc nhiên về những sự trùng hợp và tương đồng tôi nêu lên mà anh không nghĩ tới. Anh hỏi tôi xem có phải v́ nguyên do tâm lư hay bệnh hoạn mà chuyện xảy ra đêm đó. "Thú thật tôi không biết, Jack à. Nếu anh muốn biết tôi giải thích, tôi sẽ nói anh nghe. Như anh biết tôi đang thử không chấp nhận chứng nghiệm của anh, tôi chỉ nói sự giải thích có thể có được chứ không phải là đúng hẳn." Anh dục tôi: "Cứ nói đi" Đầu óc tôi quay trở về lúc tôi học y khoa trong thời gian nội trú và thực hành về trường họp người nghiền rượu bất th́nh ĺnh bỏ rượu như Jack nói với tôi anh đă chấm dứt không uống độ một tuần trước khi câu chuyện kỳ lạ xảy ra trên đường Memphis. Tôi bắt đầu chậm răi nói với người tài xế xe vận tải đang ngồi trước mặt tôi. "Jack, anh có bao giờ nghe thấy chứng bệnh mê sảng động kinh không?" - "Có, họ nói với tôi rằng mỗi lần tôi đi chữa bệnh ghiền rượu tại bệnh viện có thể nh́n thấy các con chuột mầu hồng sau khi bỏ được rượu. Riêng tôi chẳng bao giờ thấy, nhưng người bạn cùng chữa trị với tôi nói cho tôi biết là có thấy". Tôi nói cho anh biết có trường hợp ít ngày sau khi ngừng rượu, người ghiền thấy những ảo ảnh linh hoạt. Người đó nh́n thấy những vật mà thật ra không có. Người đó đổ mồ hôi, giao động và run rẩy. Những người bị mê sảng động kinh thường mất ngủ, mệt mỏi và luôn luôn sợ hăi. Jack rất chú ư đến điều tôi nói. Tôi ngưng một chút nh́n anh, anh uống một ngụm cà phê và hít một hơi thuốc lá. "Vài triệu chứng của bệnh mê sảng động kinh đă xảy ra với anh đêm đó". Tôi tiếp tục: "Anh nói với tôi anh sợ sệt khi anh ngừng tại trạm xăng. Rơ ràng anh mệt mỏi và đi tản bộ chung quanh để chấn tĩnh. Sau này anh nói anh bị ra mồ hôi và lạnh cứng v́ sợ hăi. Tất cả những việc đó xảy ra một tuần sau khi anh ngưng uống rượu". Tôi ngừng lại và thấy anh trầm ngâm nh́n ra phía xa. Trông anh như mất trí. Chúng tôi im lặng ngồi bên nhau. Tôi bắt đầu suy nghĩ liệu một người bị mê sảng động kinh có thể lái được một xe vận tải lớn đi hàng trăm dậm mà không hề hấn ǵ như trường hợp của Jack không. Thật là ngoài tầm tay, tôi tự hỏi có thể như vậy được không và óc tôi liên tưởng đến một việc đă xảy ra cách đây mấy năm cho chính tôi.Một đêm tôi đang làm việc trong pḥng cấp cứu th́ có một người, cũng là tài xế xe vận tải, bị bệnh mê sảng động kinh trầm trọng đến. Anh này là người ghiền rượu, anh nói với tôi anh lái xe xuyên bang, đột nhiên thấy nhiều ảo ảnh. Anh bắt đầu thấy các xác chết và những con vật kỳ quái to lớn nằm dài trên mặt đường. Tuy nhiên anh vẫn điều khiển được cái xe về nhà, vào bệnh viện thành phố sau một cuộc hành tŕnh dài. Tôi đă t́m đuọc câu trả lời: "Có thể một người sau khi cai rượu bị ảo ảnh vẫn có thể lái một xe lớn trên xa lộ. Jack làm tôi tỉnh mộng: những lời anh nói khiến tôi giựt ḿnh trở về thực tại, tôi đang ở trong một quán ăn của một trạm xe vận tải miền đồng quê Tennessee. "Bác Sĩ Moody, tất cả những ǵ ông nói đều đúng cả." Jack nói. "Thật đúng tôi hết sức bị giao động đêm đó. Tôi quên không nói cho ông biết. Bây giờ tôi mới nhớ lại, đêm đó, tôi mất b́nh tĩnh vô cùng." "Tốt, sự kiện anh giao động hiển nhiên hơn là việc anh ngưng uống rượu. Có thể việc anh nh́n thấy Elvis là một ảo ảnh nếu anh bị chứng mê sảng động kinh." "Vậy, có thể là tất cả chỉ trong tưởng tượng mà thôi." Jack hỏi. "Ai biết được, có thể một phần là sự thật mà cũng có thể một phần là ảo ảnh.Có thể là có một người đă quá giang xe anh, đi xe cùng anh 100 dậm, và phần cuối anh đă ảo ảnh người này là Elvis Presley như trong giấc mơ". Tôi trả lời anh. Trông anh do dự. "Tôi không biết Bác Sĩ à" anh nói. "Tôi cũng không biết, Jack ạ" Cả hai chung tôi đều cười. Lúc này trời đă khuya. Jack muốn lên đường đi một quăng rồi mới nghỉ. Trời mưa cũng đă tạnh. Tôi tiễn đưa anh ra xe của anh, chúng tôi bắt tay từ giă, anh leo lên xe. Anh quay kính xuống, nh́n tôi, miệng cười toe toét. Tiếng động cơ bắt đầu nổ và rú lên. "Suy nghĩ, tất cả mọi thứ là do tôi uống rượu", Anh cao giọng nói để át tiếng nổ của động cơ. "Vâng có thể là đúng, mà chuyện kia cũng có thể là đúng" "Cái ǵ, Bác Sĩ Moody?" Anh hỏi lại. "Có thể là anh đă thực sự nh́n thấy hồn ma của Elvis Presley" Tôi nói thật to cho anh nghe. Cả hai chúng tôi đều cười rộ, và tôi đứng nh́n theo chiếc xe vận tải cồng kềnh của anh, với đèn nhấp nháy, kéo đi vào miền núi lạnh lẽo của Tennessee trong đêm khuya. -ooOoo- CHIẾC ÁO CHOÀNG BỊ ÁM ẢNH BỞI THẦN HỒN ELVIS Vào Năm 1975 khi Elvis Presley cho cô chiếc áo choàng, Janice McMichael không bao giờ nghĩ nó sẽ là vật lưu niệm. Giờ đây chiếc áo h́nh như có một đời sống riêng tư, đôi khi cô lo lắng có nên giữ hay không. Tôi (Raymond A. Moody) nói chuyện với Janice tại Hoa Thịnh Đốn vào mùa hè năm 1986. Lúc đó Cô 39 tuổi và là một thiếu phụ tóc vàng duyên dáng đang làm thư kư cho một trường đại học. Trước khi bắt đầu vào đời cô có biết Elvis. "Tôi có đi theo Elvis trong những năm đầu của thập niên 70. Về phần Anh không có ǵ quan trọng, về phần tôi có những ngông cuồng cá nhân: Tôi đang thử làm thương mại trong thị trường ca nhạc thời gian này. Tôi là một diễn viên xinh đẹp,tài giỏi, nhưng tôi nhận thấy dù có tài năng cũng khó để có thể biểu diễn kiếm tiền. Tôi người Ohio bỏ nhà năm 21 tuổi đi California t́m việc với ước vọng trá thành một diễn viên. Thật may mắn nên tôi đă được tuyển chọn trong vài màn tŕnh diễn. Tuy nhiên vẫn không đủ sống với nghề này. Vào đầu năm 1970 một người bạn đă giới thiệu tôi với Elvis Presley Anh thật tử tế dễ mến. Khi tổ chức một bửa tiệc, Anh không yên ḷng nếu chưa gặp mặt tất cả mọi người, Anh thường tṛ chuyện hỏi về quê quán và đời sống cuả từng người. Anh thật là dịu dàng. Tôi không biết phải nói ǵ thêm nữa về Anh. Tôi không nhớ rơ đă gặp anh bao nhiêu lần; có thể là 5 hay 6 lần. Tôi không bao giờ gặp Anh trong chương tŕnh b́nh thường. Có thể nói rằng tôi là người t́nh đặc biệt của Anh, nhưng thực ra không phải thế. Thời kỳ tôi biết Anh, Anh rất sợ chết. Anh có vẻ không được khoẻ. Nhưng cá tính hiền ḥa của Anh vẫn chói sáng. Tôi và Anh nói nhiều đến sự chết chóc. Anh muốn biết ư tưởng của tôi về cái chết. Tôi nhớ đă nghĩ: "Anh là người giàu có trên thế giới nhưng muốn một thứ, mà tiền không thể mua được. Anh muốn biết về sự chết." Đó cũng là điều tôi quan tâm, v́ thế chúng tôi tṛ chuyện. Lần cuối cùng tôi gặp Anh khoảng vài năm trước khi Anh chết. Tôi không nhớ rơ năm nào, tôi nghĩ là năm 1975. Sau khi gặp Anh tôi ra về. Trời lạnh và mưa. Tôi không mặc áo ấm v́ tôi đến bằng máy bay từ miền Nam California ấm áp. Elvis choàng cho tôi chiếc áo khoác mầu nâu nhạt của Anh. Tôi nhận thấy việc tặng đồ đối với Anh gần như tự động. Hầu như Anh không bao giờ để ư đến. Trước khi quen Elvis tôi rất dè dặt. Khi gặp Anh, tôi nhận thấy nhược điểm này. Anh có lối cư xử làm người ta thấy dễ chịu. Cách ăn nói của Anh cũng vậy. Elvis làm tôi không c̣n dè dặt, chiếc áo là món quà đặc biệt với tôi, gợi cho tôi nhớ lại lời cổ nhân nói bè bạn có thể cởi áo cho nhau. Tôi mua một cái túi nhựa để treo áo này trong tủ áo. Từ khi có chiếc áo tôi đă đổi chỗ ở ba lần và mỗi lần dăn nhà, chiếc áo đều được tôi đem theo về chỗ ở mới. Cái chết của Elvis như cả tấn gạch đè nặng lên tôi. Tôi được tin này sau hôm Anh chết. Tôi ở nhà cả ngày hôm đó viết thư và nghe nhạc của Anh. Buổi sáng khi đồng hồ báo thức vừa ngừng reo, tôi mới nghe tin loan báo Anh chết hôm qua. Thật là kỳ dị, trước đây hai ba ngày tôi thoáng có ư nghĩ là tôi đến gặp Elvis. Tôi biết Anh không được khoẻ. Ư nghĩ thoáng qua trong đầu tôi Anh không sống mọi được và tôi nên lại thăm Anh. Đúng là điều kỳ quặc tôi sợ Anh chết hai ngày trước khi Anh chết? Elvis chết làm tôi ngơ ngẩn. Tôi bị giao động. Thỉnh thoảng đôi tay tôi như run lên. Tôi lo lắng về sức khoẻ của tôi, tôi sợ hăi cái chết suốt trong sáu tháng trời. Elvis h́nh như bất tử. Anh là người chết đầu tiên mà tôi biết. Bà nội, Bà ngoại tôi vẫn c̣n sống. Tôi không được biết ông ngoại ông nội tôi v́ các cô mất trước khi tôi ra chào đời. Elvis là người thứ nhất tôi biết rơ là chết. Trong khoảng sáu tháng tôi sợ cái chết đến hết hồn. Trong thời gian này chiếc áo choàng ít được tôi dùng đến. Chỉ một tuần chiếc áo đă hai lần rơi xuống sàn tủ trong lúc tôi đi làm. Chưa bao giờ áo này rơi như vậy thế mà chiếc áo rơi hai lần trong một tuần. Tôi không thể biết rơ thời gian là bao lâu sau khi Elvis chết. Có lẽ chừng một tháng nhưng chắc chắn không quá hai tháng. Lần đầu thấy chiếc áo rơi, tôi có cảm giác sợ sệt. Thành thật mà nói tôi đă tự hỏi có phải Elvis từ bên kia thế giới đang cố làm tôi chú ư đến không. Sau lần thứ hai tôi lấy túi nhựa ra và treo áo vào tủ. Tôi nhớ rơ là vào tháng 11, cái áo thực sự hoạt động. Áo rơi khỏi mắc 3 lần thượng tuần tháng 11, một lần tôi nh́n thấy áo đang rơi, lúc đó tôi đúng cách độ 5 feet. Lần này là ban ngày. Tôi không thể tưởng tượng nổi làm sao cái áo có thể rơi như thế. Thật là kỳ dị. Không mấy người biết nguyên nhân nào tôi có cái áo kể cả mẹ tôi và em gái tôi. Tôi hiểu là nếu có người biết xuất xứ của chiếc áo thể nào họ cũng đánh cắp, tôi chắc chắn như vậy. Tôi biết có một người khoe trong quán rượu là ông ta có một tập dĩa gốc của Elvis với nhăn hiệu mặt trời. Không đầy một tuần lễ sau, nhà ông bị đột nhập và tập dĩa bị mất trộm. Bạn không thể để cho người ngoài biết bạn có những vật lưu niệm của Elvis, nếu bạn muốn giữ. Trong túi bên phải của chiếc áo c̣n sót lại vài mảnh khăn giấy lau mặt và một đồng xu. Tôi bật cười - một đồng xu trong túi áo của một ông triệu phú! Khăn giấy và đồng xu vẫn c̣n nguyên trong túi. Tôi chưa bao giờ lấy ra. Tôi bị khủng hoảng tinh thần từ khi Elvis chết nên tôi đă t́m một người đến ở chung. Người này tên Mary, quê ở Oklahoma. Mary đến đây để làm việc cho chánh phủ. Tôi sợ hăi có người xâm nhập vào pḥng tôi và thấy tôi có một ḿnh nên tôi đă để Mary ở chung và chia bớt tiền nhà với tôi. Đây là lần duy nhất tôi cảm thấy sợ hăi sự cô đơn khoảng 6 tháng sau khi Elvis chết. Mary dời tới tháng Giêng. Tháng 11, chiếc áo như biết hoạt động, rơi 3 lần. Ngày 20 tháng 11 tôi tỉnh dậy giữa đêm khuya. Cái đèn ngủ ở ngoài hành lang phía ngoài pḥng ngủ chiếu ánh sáng thẳng vào cái tủ đóng ch́m trong tường để treo quần áo. Tủ này có hai cánh của kéo, một cánh th́ được kéo hết về một phía, phía tủ mở là phía treo chiếc áo. Tôi không biết sao tôi lại thức giấc giữa đêm khuya và nh́n về phía cái tủ. Tôi cố tập trung đôi mắt nh́n vào cái tủ v́ tôi không tin cái ǵ mà tôi đang thấy. Cái tay áo của chiếc áo choàng chuyển động, tay áo co lên rồi duỗi xuống. Đó là tay áo phải. Tôi biết rơ là tay phải theo cách treo của áo. Tôi hoảng vía. Tôi cố cử động mà không nổi. Tôi như bị tê liệt. Tôi không biết là bao lâu. Có thể 10 phút, cũng có thể 30 phút. Thỉnh thoảng cái tay áo co lên từ từ rồi lại buông xuống. Buổi sáng, thức dậy tôi thấy chiếc áo vẫn c̣n treo trên mắc. Lần này chiếc áo không rơi. Tôi chưa bao giờ thấy chiếc áo chuyển động như lần đó cả. Tôi cũng chưa bao giờ kể cho Mary biết chuyện về chiếc áo. Vào tháng Hai một người đàn bà đến ở một căn pḥng dưới hành lang của chung cư. Tôi có biết bà ta. Tên Bà là Alice. Bà là người rất chú trọng đến siêu linh. Bà ta đă đưa tôi đến dự một cuộc hội về siêu linh tại Hoa Thịnh Đốn. Một hôm, ngồi uống trà với bà tại căn pḥng của bà tôi đă kể câu chuyện chiếc áo cho bà nghe nhưng tôi chỉ nói áo này là do một người bạn có tặng tôi. Tôi không nói áo này của ai cả. Bà lên căn pḥng tôi và nh́n xung quanh. Bà bảo tôi bà có thể đoán về chiếc áo này. Bà nới áo này của một người đàn ông tinh thần rất cao nhưng chết yểu. Tôi rất ngạc nhiên và nói là bà bà đoán trúng. Bà nói bà nghe thấy nhạc rất hay chung quanh chiếc áo. Tôi th́ không nghe thấy ǵ cả, chắc chắn như vậy, nhưng bà ta nói đúng là nhạc này của người đàn ông chết yểu. Sau đó một chuyện kỳ lạ nữa lại xảy ra với chiếc áo. Vào cuối tháng Hai, tôi đẩy chiếc áo qua một bên để có thể mắc thêm quần áo. Khi tôi cầm nơi cổ áo tôi thấy cổ áo ướt, cổ áo bị ướt cả. Không có lư cái áo choàng này chung quanh lại bị ướt. Tôi lo sợ. Mary không thích Hoa Thịnh Đốn nên dời đi vào đầu tháng Ba. Tôi lại sống một ḿnh, lại càng thêm lo lắng, tôi sợ cái chết, tôi vẫn sợ chiếc áo. Ngày 21 tháng Ba, một giấc mộng đến với tôi. Tôi mơ thấy tôi và Elvis đi qua những lùm cây. Đây là đồng quê, một miền rất đẹp. Chung quanh là những dẫy núi cao xanh thẳm. Trời xanh trong tuyệt đẹp. Tôi có thể nh́n thấy các con chim đủ mầu sắc như mầu sắc của các cầu vồng bay lượn chung quanh. Chúng tôi tản bộ trên một con đường nhỏ. Chung quanh chúng tôi đủ mọi loại hoa đẹp muôn mầu sắc đang đua ní. Elvis cầm tay tôi và chúng tôi đi sát bên nhau. Giấc mơ này giống như thật. Khi tôi tỉnh dậy tôi liền ghi lại tất cả. Chúng tôi đi qua một cái cầu đá bắc qua con suối nhỏ. Elvis nói chuyện với tôi. Tôi đă ghi lại tất cả những ǵ Anh nói. Chúng tôi ngồi trên cầu đá. Anh cầm tay tôi và siết chặt tôi vào ḷng Anh. Anh nói: "Janice à, em có vẻ ngần ngại, phải không em? Em c̣n nhớ không chúng ta đă cùng nhau tṛ chuyện nhiều lần về cái chết. Chúng ta có muốn cùng nhau chung sống sau khi chết không. Anh cố gắng nói em biết qua chiếc áo choàng, em yêu dấu nhưng em quá sợ hăi. Việc không thành. Anh muốn nói cho em biết chúng ta sẽ sống cùng nhau sau khi chết. Thôi em đi và sống nhé." Anh ôm tôi thật chặt và nói câu từ giă. Rồi Anh mỉm cười, nụ cười thật dịu dàng vốn dĩ của Anh và cởi chiếc áo choàng Anh đang mặc trong giấc mộng và đắp lên ḿnh tôi. Cái áo này làm bằng một loại vải giống như lụa. Áo mầu vàng thật đẹp. Đến đây giấc mộng chấm dứt. Tôi tỉnh dậy và lập tức viết ngay tất cả xuống giấy. Từ ngày 21 tháng Ba năm 1978, tôi không c̣n nghĩ đến cái chết nữa. Giấc mộng đă làm tôi khoẻ hơn. Chiếc áo choàng vẫn trong tủ áo. Tôi không c̣n sợ nó nữa. Tôi sẽ giữ nó mọi mọi. Elvis Presley lúc nào cũng ở trong thâm tâm tôi." V́ tôi chỉ ở Hoa Thịnh Đốn có hai ngày để dự một cuộc hội nghị về nghề nghiệp, tôi không có đủ th́ giờ để đến pḥng Janice xem chiếc áo. Tôi cảm ơn cô đă cho tôi chia sẻ chứng nghiệm riêng tư của cô. Tôi chưa bao giờ được nghe những chuyện như thế trước đây. Tôi cũng nói cho Janice biết chứng nghiệm mà cô nằm trên giường không cục cựa được trong khi nh́n thấy cái áo chuyển động gợi cho tôi trường hợp y khoa rất hiếm gọi là "tê-liệt trong khi ngủ". Hiện tượng này rất là hiếm, người trong trường hợp này là người nhậy cảm đang trong tính trạng lo âu, đang bị đè nén đúng như t́nh trạng của Janice. Những người bị bệnh này lúc thức dậy rất tỉnh táo; tuy nhiên vẫn thấy bắp thịt như tê liệt và cảm thấy lo âu và sợ sệt. Đôi khi t́nh trạng này cũng liên hệ đến cái gọi là "thùy miên mộng ảo", những h́nh ảnh sống động hiện ra trên thế giới như thật. Có lẽ việc xảy ra cho cô đêm đó có thể là một giai đoạn của bệnh "tê-liệt trong khi ngủ" với những h́nh ảnh sống động của chiếc áo - hậu quả là một giấc mộng trong khi thức. Tôi không có luận giải về chiếc áo rơi, tuy nhiên tôi b́nh luận là rơ ràng giấc mộng đưa đến quyết định trong việc tiếc thương Elvis mà cô đang trải qua trong thời gian ấy. Janice là một thiếu phụ trẻ, thông minh, và tự tin. Chứng nghiệm quả không c̣n nghi ngờ ǵ nữa đă khiến Janice thành một người hạnh phúc hơn. Nàng cả quyết là nàng hàm ơn nhiều t́nh bạn mà Elvis Presley đă dành cho nàng. -ooOoo- NHỜ ELVIS PRESLEY, T̀M THẤY ĐỨA CON BỎ NHÀ RA ĐI Harold Welch là cảnh sát viên của một thành phố nhỏ tại Georgia có hơn 15 năm. Anh là người to lớn lực lưỡng có vẻ bướng bỉnh. Anh thường nói anh rất hănh diện được là con trai của một công nhân hăng dệt. Anh là người lịch lăm, ăn nói mềm mỏng khó có thể h́nh dung nơi anh một chứng nghiệm kỳ lạ về siêu linh. Khi kể lại chuyện kỳ lạ của ḿnh, anh rất trung thực, mô tả các biến chuyển chính xác, không thêm bớt mầu mè và rất ít giải thích. Anh nói chuyện với tôi trong một pḥng khách nhỏ, không có cửa sổ của một ṭa nhà gạch vừa dùng làm Ṭa Thị Sảnh, vừa dùng làm Trạm Cảnh Sát. "Chuyện xảy ra chắc chắn vào tháng Ba Năm 1982. Thằng con trai út tên Tony của tôi đă gây cho tôi ít nhiều rắc rối. Nó giao du với bọn côn đồ và cả bọn đă bị bắt trong một cửa tiệm dưới phố. Có người tin cho vợ chồng tôi biết nó hút cần sa. Tôi th́ chưa bao giờ gặp. Trước mặt các con tôi đă thề là sẽ thẳng tay trừng trị nếu bắt gặp đứa nào phạm tội ma túy và tôi c̣n muốn pháp luật cứng rắn với nó như với bất cứ ai khác. Tony là một đứa trẻ chưa bao giờ phạm lỗi lầm nào cả. Nó là một đứa bộ tốt nhưng lại giao du với bọn xấu. Đôi khi nó không về nhà. Có một thời gian, chúng tôi không thể nào kiểm soát nổi nó. Tới đầu tháng Hai Năm 1982, chúng tôi thật sự phải đương đầu với nó. Nó đang học cấp II, Trung Học. Điểm học tập của nó xuống thấp dưới hẳn cái khả năng của nó. Năm đó vợ tôi giải phẫu lưng và nằm điều trị tại bệnh viện 1 tháng, sau đó phải tĩnh dưỡng ở nhà thêm một thời gian nữa. Cứ mỗi tuần trong nhà lại xảy ra một hai lần căi vă đôi khi ḥa lẫn nước mắt về điểm học tập, về sự say sưa và về đám bạn bè của nó. Ngày 3 hay ngày 4 Tháng Hai, nó đi chơi đến 3 giờ sáng mới về và say rượu. Vợ chồng tôi lo sợ đi t́m nó khắp nơi, suốt hai tiếng đồng hồ mà không thấy nó. Khi nó về, tôi nổi nóng, chửi mắng nó thậm tệ, lẽ ra tôi không nên nặng lời như vậy. Bất cứ người cha nào cũng phải làm như tôi thôi. Bốn năm ngày sau, nó không nói với chúng tôi một lời. Hễ ở nhà là vào pḥng riêng nghe nhạc. Tony rất thích Elvis Presley và các nhạc sĩ dân ca. Nó không thích loại kích động nhạc giật gân như phần đông thanh niên thời nay. Lúc nào nó cũng chỉ Elvis. Pḥng nó treo đầy những bảng quảng cáo Elvis. Tôi cũng muốn như vậy; thà vậy c̣n hơn là nghe các băng nhạc cuồng tấu nặng mùi ma túy. Tony biết tất cả về Elvis. Tôi th́ không. Lần gần gủi nhất với Elvis là khi tôi được gọi đến để tăng cường an ninh cho cuộc tŕnh diễn của Anh tại một thành phố gần đây. Tôi không bao giờ t́m cách đến gần Anh và cũng chưa gặp Anh bao giờ. Tony có ư định đến California để đóng phim. Nó đă dành dụm được số tiền trên hai ngh́n đồng. Một tuần lễ sau ngày tôi nổi cơn thịnh né, Tony bỏ nhà ra đi không nói một lời. Nó đi biệt tăm. Tôi đă ở trong nghề cảnh sát 20 năm. Tôi biết các bậc cha mẹ không thể làm ǵ hơn được gặp trường hợp như Tony của tôi. Vợ tôi đau buồn khóc suốt hai tuần lễ. C̣n tôi th́ hút thuốc hết điếu này đến điếu khác. Tôi nghiện thuốc lá từ năm 12 tuổi nhưng tôi đă bỏ v́ tôi bị sưng phổi trầm trọng và khó thở. Khi Tony bỏ nhà đi, tôi hút trở lại 3 gói một ngày. Tôi chắc chắn Tony đi California. Tôi cũng biết những đứa trẻ lang thang nơi đó khó mà có cơ hội. Tôi hiểu rằng nếu nó ở đấy lâu, tiền sẽ hết, nó sẽ sa vào chỗ xấu xa. Đứa con trai lớn của tôi tên Harold Jr làm ở Nha Cảnh Sát Atlanta, có nhiều kinh nghiệm t́m những trẻ mất tích. Tôi và Harold Jr quyết định đi Los Angeles để kiếm Tony. Tony bỏ đi Ngày 11 Tháng Hai. Ngày 3 Tháng Ba tôi và Harold Jr đáp máy bay xuống Los Angeles. Trong thời gian này, Bác Sĩ cho vợ tôi uống thuốc ngủ v́ vợ tôi quá lo lắng cho Tony mà mất ngủ. Cứ mỗi lần điện thoại reo là vợ tôi lại khổ sở. Cuối cùng tôi phải ngủ ngoài pḥng khách và mang theo cái điện thoại để vợ tôi có thể ngủ. Tôi ngủ trên cái ghế sự pha để trả lời điện thoại cho dễ. Phần lớn là các điện thoại gọi đến cho các đứa khác đang c̣n ở chung với chúng tôi. Tôi rất mong Tony gọi về. Vào đêm ngày 1 Tháng Ba, tôi đang ngủ trên sự pha trong pḥng khách th́ nằm mơ thấy Elvis Presley. Trong giấc mộng, Elvis vào văn pḥng tôi. Anh nói Anh biết vài tin tức về Tony. Tôi nhớ Anh nói: "Thưa ông, tôi lo lắng cho Tony, Tony rất ái mộ tôi. Tony đang ở Los Angeles, tôi không thể đến với nó được". Elvis mặc quần áo thường, khoác ngoài cái áo choàng mỏng của cảnh sát. Elvis cho tôi xem cái thẻ. Tôi có treo một tấm bản đồ thành phố trên tường ngay sau bàn giấy, nhưng trong giấc mộng th́ lại là tấm bản đồ thành phố Los Angeles. Anh chỉ cho tôi vài con đường nhưng chưa bao giờ tôi tới Los Angeles nên khó mà nhớ được tên các con đường đó. Cố gắng hết sức tôi cũng không thể nhớ tên một con đường nào. Elvis đành chịu. Anh bắt đầu nói với tôi: "Hăy nh́n, Tony đang ở trong một cái nhà có pḥng cho thuê". Rồi Anh chỉ cho tôi quang cảnh. Một đường phố ngắn có một nhà thuốc tây ở góc đường và trước mặt là một tiệm ăn nhỏ. Đột nhiên tôi và Elvis ở ngay trên con đường phố đó và đi bộ xuống, Mọi thứ như mờ mịt, tôi không nh́n rơ mấy. Elvis cố gắng chỉ cho tôi để tôi có thể nhận được. Elvis nắm cánh tay tôi và lay tôi. Anh nói: "Nh́n đây ông, ông phải nh́n kỹ. Rất là quan trọng đấy ông". Anh chỉ tôi một căn nhà có, một căn nhà tồi tệ. Elvis nói: "Ông à, con ông đang ghiền ma túy đấy, ông phải giúp đỡ nó". Tôi có thể nói là Elvis cố gắng chỉ cho tôi cái nhà có. Đó là một căn nhà hai tầng. Tôi thấy một con mèo trên thềm đang cố vào nhà. H́nh như con mèo của căn nhà ấy. Con mèo mầu vàng có sọc. Elvis cố gắng chỉ cho tôi tên con đường nhưng tôi không tài nào nhớ được. Elvis vẫn giống như trong h́nh. Trong giấc mộng tôi thấy Anh cao chừng khoảng 6 feet và chừng 30 tuổi. Tôi thấy Anh rơ ràng nhưng chung quanh Anh th́ mờ ảo. Tôi cố tập trung nhận diện căn nhà nhưng tôi chỉ thấy qua làn sương mù. Tôi cảm ơn Anh v́ sự quan tâm của Anh. Tôi tỉnh dậy, đầu đau và tai ù. Bấy giờ ông có thể nghĩ tôi là người mất trí. nhưng tôi, tỉnh dậy, tôi biết tôi sẽ t́m được Tony. Giấc mộng vẫn ám ảnh tôi cả ngày hôm sau. Điều tôi ngạc nhiên là tấm thẻ cảnh sát. Tôi vẫn biết Anh rất thích giúp đỡ an ninh cảnh sát. Trước kia, chưa bao giờ tôi nằm mơ thấy Elvis. Giấc mộng hầu như thật. Harold Jr và tôi đáp máy bay xuống Los Angeles ngày 3 Tháng Ba. Chúng tôi bắt tay vào việc ngay. Tôi liên lạc với các nhân viên an ninh cảnh sát địa phương. Họ sẵn sàng cộng tác. Tôi nới chuyện với một chuyên viên về vụ này. Ông ta chỉ cho tôi những địa điểm mà các em thường tụ tập. Chúng tôi đưa h́nh của Tony, Chúng tôi gặp một số người tại các chỗ này xong không một ai nhớ là đă nh́n thấy Tony. Harold Jr thuê một chiếc xe hơi. Chúng tôi đến tất cả những nơi do chuyên viên cho biết. Ngày 9 tháng 3 tôi đang lái xe, chợt nh́n thấy một tiệm bán thuốc tây và trước mặt có một quán nhỏ bán bánh mờ thịt nướng y như tôi đă trông thấy trong giấc mộng. Bây giờ chắc Bác Sĩ nghĩ: "ông này mất trí rồi" phải không, Bác Sĩ Moody? Không đâu! khi nh́n thấy tiệm thuốc và quán ăn tôi tự nói: "Đúng là con đường Elvis chỉ cho tôi trong giấc mộng". Lúc này là 2 giờ chiều. Tôi quay sang nói với Harold Jr: "Con à, chúng ta sẽ t́m thấy Tony tại chỗ này." Harold Jr chắc nghĩ rằng ông già này bí mật. Tôi dừng xe sát lề đường ngay trước cửa hiệu thuốc. Tôi sang phía phải con đường và đi xuống chừng nửa quăng tôi nh́n thấy ba căn nhà 2 tầng có. Con đường này trông rất quen thuộc. Bây giờ tôi không biết nói với ông thế nào nhưng đúng là con đường mà tôi và Elvis cùng đi trong giấc mộng. Tôi không biết trong giấc mộng Elvis chỉ cho tôi căn nhà nào. Tôi nhớ phần rơ nhất là cái cửa chính và mấy bậc thềm. Tôi lại gần nh́n kỹ hơn th́ thấy một căn nhà có cửa và bậc thềm giống như trong mộng. Tôi liền đi tới nhà này và gơ cửa. Một bà già chống gậy ra mở. Tôi nhận thấy cửa trước có kính và phần trên có màn trắng giống như tê mỏng che bên trong cửa kính. Những màn này được ngăn ra giống như những màn tôi nh́n thấy trong giấc mộng. Tim tôi đập mạnh như muốn ra khỏi lồng ngực khi bà cô mở cửa. Bà cô nh́n tôi. H́nh như bà cô sợ hăi. Có lẽ bà cô tưởng tôi là người điên chăng. Bà cô hỏi: "Cái ǵ! Tôi có thể giúp ǵ cho ông?" Tôi hỏi: "Thưa Cô, Tony Welch có ở đây không?" Bà cô trả lời: "Có". Tôi nói với Bà tôi là cha y, y đă bỏ nhà đi. Tôi phải gặp ngay y. Bà cô chỉ cho tôi pḥng của Tony trên lầu trông ra cầu thang. Đến đây Harold Jr ngơ ngác như trong sương mù. Tôi không nói cho Harold Jr biết giấc mộng. Harold Jr có vẻ bối rối và theo chân tôi lên cầu thang. Khi tôi lên đến pḥng Tony, tôi gơ của. Tôi nghe thấy y nói "Xin cứ vào". Tôi mở của bước và o. Thằng nhỏ đang nằm dài trên giường đọc tạp chí. Tôi nh́n thẳng vào mặt y và mỉm cười. Mặt y trắng bệch như tấm vải trải giường. Nó nói "Thưa Ba, Ba làm sao mà t́m được con thế?" Nó ̣a khóc và nhảy đến tôi. Tôi đứng đấy ôm choàng thằng nhỏ lối một phút. Tôi cũng khóc. Nó nói: "Thưa Ba, con muốn trở về nhà." Chúng tôi xếp đồ dùng cho nó. Tôi trả tiền nhà cho bà cô. Khi chúng tôi sắp sửa bước ra tôi hỏi bà cô: "Thưa cô, cô có nuôi mèo không?" Bà cô trả lời "Không, tôi không nuôi mèo." Tôi hỏi bà cô cô có thấy một con mèo vàng có sọc ở lối xóm không. Tôi muốn biết về con mèo mà tôi trông thấy trong giấc mộng. Tôi chắc chắn con mèo đó ở đâu đây. Bà cô trả lời bà cô không thấy con mèo nào như vậy. Bà cô không hỏi tôi tại sao tôi muốn biết. Nhưng theo hành động của tôi và lối nh́n của Harold Jr chắc bà cô tưởng chúng tôi thuộc loại điên khùng. Trên xe về khách sạn, Harold Jr và Tony không hỏi tôi sao tôi lại biết. Tôi không bao giờ kể cho chúng hay. Thực ra tôi cũng cảm thấy khó nói với các con tôi là Elvis chỉ đường cho tôi trong giấc mộng. Tôi giữ kín trong ḷng. Harold cho rằng tôi t́m được là do tin tức của một cảnh sát viên thuộc Nha Cảnh Sát Los Angeles, và tôi cũng không muốn phổ biến nguyên do tôi đă thành công. Tôi không nói về Elvis, những ǵ Anh đă đến với tôi. Đêm đó tại khách sạn, tôi và Tony suy nghĩ về sự may mắn. Tony nói: "Thưa Ba, có một điều rất ngộ, con đă nằm mơ thấy Elvis hai lần. Trong cả hai giấc mộng Elvis bảo con là Ba sẽ đến đón con về. Anh cũng nói Anh lo lắng cho con và Anh sẽ giải quyết được." Tôi bằt đầu khóc khi nghe thấy vậy, nhưng tôi vẫn chưa nói cho con tôi về giấc mộng. Tôi vẫn chưa nói đến Anh, nhưng tôi đă thấy thần kinh căng thẳng. Tôi sẽ nói về Anh một ngày gần đây. Quả là đúng như trong giấc mộng Elvis nói Tony ghiền ma túy. Chúng tôi đă cố gắng cho Tony bỏ ma túy. Tony đă vượt qua, và rất khoẻ mạnh. Mọi việc đều tốt đẹp. Tôi không hiểu sao tôi lại nằm mộng như vậy. Trước đây cũng như sau đó không bao giờ có những giấc mơ như thế nữa. Tôi đâu phải là người không biết suy nghĩ. Tôi phải đứng trên cương vị việc là m. Tôi chưa bao giờ dính dáng tới những chuyện siêu linh. Vài năm trước đây. tại một thành phố gần đây, có một vụ giết người rất sôi nổi. Đủ loại giấy tờ. Họ đă mang các nhà siêu linh đến để giúp đỡ. Tôi tự nghĩ đó chỉ là lường gạt. Bây giờ tôi không biết nghĩ sao. Với tôi h́nh như Elvis Presley lo âu cho con tôi nên Anh đă đến bằng giấc mộng để giúp đỡ tôi. Tôi không biết nghĩ ǵ hơn nữa." Câu chuyện của Harold Welch là một câu chuyện khó khăn trở ngại nhất mà tôi gặp phải. Nếu những dữ kiện mà ông nhớ lại đúng như ông tŕnh bầy, câu chuyện như thách đố sự giải thích tầm thường. Harold là một người thành thực đáng tin cẩn, có lư trí, không phải loại người có khuynh hướng ngông cuồng. Chính giấc mộng là động lực tâm lư quan trọng. Theo cách mà Harold mô tả Elvis trong giấc mộng, Elvis xuất hiện lo âu cho Tony cũng như Harold trong lúc nằm mộng là một sĩ quan cảnh sát lo âu cho nghề nghiệp của ḿnh. Sự khó khăn do Evis ám chỉ trong giấc mộng là làm sao báo cho Tony biết sự trở ngại của Harold trong việc liên lạc với con. Tuy nhiên, điều huyền bí là chốn xảy ra trong giấc mộng đă biến thành sự thực ăn sâu vào trí nhớ của Harold. Giống như Harold, tôi cũng khó biết phải nghĩ ǵ! -ooOoo- -32- HILDA WEAVER, NHÀ TÂM LƯ HỌC THẤY THẦN HỒN ELVIS PRESLEY Tác Giả: Raymond A. Moody Hilda Weaver là một nữ Bác Sĩ Tâm Lư Điều Dưỡng 30 tuổi, c̣n độc thân. Trong thị xă, Cô được mọi tầng lớp dân chúng và các đồng nghiệp quư trọng. Cô đă từng nói cô thuộc loại người "bảo thủ" và không mấy để ư đến các hiện tượng siêu nhiên cho đến khi cô đă tự ḿnh chứng nghiệm. Khi Elvis chết được gần 3 tháng, lúc đó cô 28 tuổi Elvis đến thăm cô, thuyết phục cô. Sau đây là lời cô thuật lại: "Khi tôi khoảng 10 hay 12 tuổi tôi có gặp Elvis một lần. Tôi nói "gặp" chứ đúng ra lúc ấy Anh đi bên cạnh tôi. Anh nh́n vào mặt tôi và nói: "Chào Em Cưng". Tôi nhớ tôi thật là cảm động. Một em bộ nít như tôi mà tự nhiên được một người đàn ông có cả nửa số phụ nữ trên thế giới ái mộ âu yếm nói chuyện. Ôi thật là cảm động biết chừng nào! Lẽ đương nhiên tôi nghĩ ngay đến việc lấy Anh. (Thật tức cười) Thật là một ư tưởng ngộ nghĩnh! Tôi nhớ măi tới mấy tháng sau đó và đúng ra cả năm sau không chừng. Có lẽ tôi đă hơi lập dị. Tôi nghĩ "Khi tôi lớn Elvis có thể cưới tôi, Anh có thể mang tôi theo Anh và chúng tôi sẽ sống bên nhau hạnh phúc suốt đời. (Thật tức cười) Cuộc hành tŕnh thú vị biết bao! Chuyện này đă làm cho tôi khúc khích cười thầm cho đến cả đến bây giờ mỗi lần tôi nhớ lại. Tôi chỉ gặp Elvis một lần duy nhất đó. Thực thà mà nói, trước khi xảy ra việc trên tôi cũng chưa hẳn là người thực sự ái mộ Anh. Tôi chỉ mới xem 1, 2 cuốn phim Anh đóng. Tôi có vài dĩa hát của Anh - như Ông (Raymond A. Moody) thấy - chừng nửa tá tập nhạc của Anh. Tôi không bị Elvis ám ảnh như những người con gái đồng lứa tuổi. Tôi thuộc loại người đứng đắn, chỉ biết có học; Ông có thể hỏi bạn hữu của tôi. Họ sẽ cho Ông biết là tôi đứng đắn hay không. Đời tôi chỉ có học đường và sách vở. Thế cho nên tôi vô cùng kinh ngạc khi Elvis đến thăm tôi. Bây giờ Ông thấy việc này như từ trên trời rơi xuống, tuyệt đối không có liên quan ǵ đến ma quỷ hay thần giao cách cảm. Không, bao giờ tôi cũng có thành kiến thiển cận về trí óc của con người. Tôi nghĩ rằng những chuyện như vậy là do tưởng tượng hay kỷ thị ám thị mà thôi. Đó là lư do khiến không bao giờ tôi kể lại chuyện đó cho các bạn đồng nghiệp nghe cũng như tôi không bao giờ muốn nói cả. Mọi người sẽ coi tôi giống như tôi coi các người khác - các bệnh nhân của tôi đă từng kể cho tôi nghe những loại chứng nghiệm tương tự như vậy. Rồi việc xảy đến làm tôi cứng họng. Vào buổi chiều tôi đang làm việc trong pḥng, tôi viết bài cho một tờ báo chuyên môn. Bài đó cuối cùng đă được đăng. Tốt hơn tôi không cho ông biết bài ǵ và tờ báo nào bái v́ nếu mọi người t́m ra, họ sẽ sợ hăi và chống đối. Họ sẽ không ngạc nhiên khi biết điều ǵ xảy đến khi tôi đang viết bài này. Bấy giờ, tôi đang trong pḥng làm việc, ngày 17 Tháng 11 Năm 1977. Tôi biết đúng là ngày đó v́ sau khi Elvis Presley ra về tôi lấy bút xanh ghi ngày vào cuốn lịch để bàn với chữ "EP (Elvis Presley) bất ngờ đến thăm" Hiện nay tôi vẫn c̣n giữ cuốn lịch đó. Cắm cúi viết trong pḥng làm việc, ngẩng lên tôi chợt thấy Elvis Presley đang ngồi trước mặt tôi trên chiếc ghế bành da mà bệnh nhân của tôi thường ngồi. Thật là sửng sốt biết làm ǵ đây trong trường hợp này. Tôi nhận ra Anh và cảm thấy bầu không khí chung quanh tràn ngặp yêu thương, h́nh như Anh có ư nghĩ không mấy tốt đẹp về tôi. Thật là ngạc nhiên. Tôi nhớ lại lúc đó tôi là người hạnh phúc nhất trên đời. Là một nhà tâm lư giỏi, khôn ngoan, không ǵ ràng buộc lại giàu có và sống trên mảnh đất đẹp nhất của trái đất. Bởi vậy tôi có thể nói rằng Elvis nhận thấy có cái ǵ không ổn trong đời sống của tôi, cái đó mà chính tôi cũng không biết nên Anh đang thử giúp đỡ tôi. Chúng tôi đến với nhau, tuy đột ngột nhưng đầy nhiệt t́nh. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lúc đó tôi thật vụng về. Thông thường với các bệnh nhân mới tới, tôi hay hỏi câu: "Tôi có thể giúp đỡ ǵ cho ông (hay bà) đây?" Nhưng khi đối diện với gương mặt đôn hậu, hào phóng của Elvis presley, tôi lại hỏi: "Anh có thể giúp đỡ ǵ cho tôi đây?" Anh mỉm cười, hớn hí, và chắc chắn rất hài ḷng. Nh́n gần trông Anh rất trẻ chỉ trạc tuổi tôi vào lúc đó. Anh có vẻ sung sướng. Đến lúc này th́ khả năng phê phán của tôi chợt đến và tôi ngưng ngay sự phân tích. Tôi nghĩ điều này: "Có thể xảy ra? Có thực điều này thật đang xảy ra sao?" Dù vậy khả năng phê phán của tôi chưa lén xén. Tôi vẫn dùng khả năng này từ hồi nào đến giờ rất hiệu quả. Nói đúng ra tôi biết có hơi lợi dụng. Thật điên rồ khi dùng khả năng phán xét để ngờ vực sự thực mà tôi đang nh́n thấy trước mắt. Tôi thực đang nh́n thấy mà. Tôi thấy Elvis Presley, Anh mặc bộ đồ mầu xanh với các tua rũ xuống trông hấp dẫn nhưng tôi không chú ư mấy về y phục. Điều tôi muốn nhấn mạnh là tôi đang nh́n thấy Anh, hơn nữa là đang cùng Anh ḥa hợp, đang cùng Anh tác động, và đang có với Anh một sự thân ái, một t́nh bằng hữu. Tôi cảm thấy tôi như một học sinh, một em gái, một người bạn, tất cả trong cùng một lúc. Anh bắt đầu tṛ chuyện với tôi, Anh nói "Missy, Cô có hài ḷng với cuộc sống của Cô không?" Khi tôi c̣n nhỏ, một số người thân trong gia đ́nh gọi tôi là Missy, nhưng từ nhiều năm qua, từ khi tôi ra khỏi trường Đại Học, không c̣n ai gọi tôi bằng cái tên này nữa. Câu hỏi này giáng vào tôi theo tục ngữ như cả một tấn gạch nặng. Câu hỏi như vào thẳng tim tôi, tôi trả lời: "Anh là nhà tâm lư giỏi hơn tôi, tuy chẳng bao giờ Anh đến trường." Vừa nói xong, tôi cảm thấy bối rối và hổ thẹn v́ mới gặp Anh lại hạ Anh. Nhưng Anh mỉm cười và câu trả lời của Anh làm bầu không khí đang lúng túng trở thành ấm cúng và thuận ḥa ngay. Anh nói: "Tôi đă theo học một nhà trường tốt nhất ". Theo cách Anh nói, tôi nhận là Anh có lư. Sau cùng Anh đă chết để về nơi Thiên Cảnh! Cái ǵ đă làm tôi nghĩ tôi là người tài giỏi, phải chăng mảnh giấy treo trên tường kia? Tôi hiểu rằng cấp bằng Tiến Sĩ của tôi không c̣n nghĩa lư. Tôi không thể núp sau văn bằng đó nữa. Trước đây đối với bất cứ ai ngồi tại cái ghế này, th́ tôi là Tiến Sĩ, xử dụng văn bằng này để đối phó. Nhưng giờ đây với một người đă chết và người nay đang hỏi tôi điều ǵ đó trong ḷng tôi mà chính tôi không biết. Tôi trả lời Elvis: "Hài ḷng với cuộc sống của tôi à? Ồ! Anh biết rơ về tôi, chính tôi không biết điều đó, tôi không biết đối phó phải không Anh?" Anh yên lặng làm thinh và hiền từ nh́n thẳng vào mật tôi. Tôi bắt đầu thổn thức. Anh hiểu ngay và nói: "Hilda à, Cô phải mở rộng bối cảnh mà Cô đang làm trong đời sống của Cô". Rồi chúng tôi tṛ chuyện một lúc hết chuyện riêng tư lại đến những chuyện vớ vẩn mà từ trước tới nay tôi chưa hề hé môi cho ai biết cả. Sau khi chấm dứt câu chuyện tôi hiểu tầm đa hiệu của tư tưởng và trí tuệ con người nếu biết áp dụng, tôi sẽ đem lợi ích đến cho nhiều người khác; tôi phải hiểu tư tưởng và trí tuệ trong tôi và biết khai thác triệt để tối đa. Khi tất cả mọi vấn đề đă ăn sâu vào tâm khảm tôi là lúc Anh phải ra đi, tôi biết là tôi không bao giờ gặp lại Anh nữa v́ tôi đang sống ở trần gian. Và tôi cũng chuẩn bị kỹ càng để tiễn Anh đi, điều mà tôi không làm trong khi Anh c̣n sống - đó là tự ḿnh cái mở nhiều hơn nữa cho chính ḿnh cũng như cho những người khác. Mặt khác tôi hăy c̣n chưa bộc lộ được hết ḷng thương yêu của tôi đối với Anh, và tôi không thể để Anh ra đi một ḿnh. Đến lúc này tôi nhớ đến một chuyện làm tôi bối rối. Vài ngay sau khi Elvis chết, tôi đọc trên một tờ báo có tin hai phụ nữ trẻ đến chia buồn, đang đứng quanh nhà Elvis, bị xe đụng chết. Tôi xúc động nhiều v́ cái chết của hai người đàn bà c̣n quá trẻ. Khi Elvis từ giă, tôi đem chuyện này nói với Anh và tôi cũng lo lắng phản ứng của Anh hay được Anh có buồn rầu không. Anh trả lời: "Tôi cũng rất buồn về chuyện này. Tôi có mặt ở đó để chào họ và sống với họ khi họ về Thiên Cảnh". Sau đó tôi hết lo lắng, thêm lần nữa Elvis đă làm cho tôi cảm động với sự hiền từ của Anh. Tôi liền cúi đầu, chắp hai tay như cầu nguyện. Khi tôi ngẩng đầu lên th́ Anh không c̣n nữa. Từ đó tôi không bao giờ nh́n thấy Anh và cũng chẳng bao giờ nằm mơ thấy Anh cả. Trên đây là chứng nghiệm của tôi. Không có thông điệp vũ trụ, không có sự thực uyên thâm, không có giấy tờ ghi lại. Tất cả đều riêng tư - rất đầm ấm và riêng tư. Từ đó tôi trở nên sung măn nghị lực. Tôi thương tất cả mọi người. Ông biết không dù đời có sao đi nữa th́ tất cả chúng ta vẫn cần hợp quần. Chúng tôi c̣n có rất nhiều thứ mà không có trong sách vở. Không một người bệnh nào hay một đồng nghiệp nào của tôi biết tôi có kinh nghiệm này với Elvis Presley. Mà cũng không ai có thể biết được - v́ là rất riêng tư như ông đă biết. Cái mà tôi hy vọng là họ nh́n thấy hậu quả nơi tôi. Hậu quả đă giúp tôi cởi mở, đă làm cho tôi có lại cuộc đời hoạt động. Việc này đă làm cho tôi có được các điều tốt đẹp đó. Sau khi Hilda mô tả chứng nghiệm của Cô, Tôi và Cô đă có một cuộc bàn luận khá lâu. Tôi bầy tỏ ư kiến riêng của tôi. Một số đặc tính đến với Cô rất phù hợp, chứng nghiệm đă thức tỉnh tư tưởng thầm kín của Cô, và thật là rơ ràng Cô cần có một số t́nh cảm thiết yếu mà từ lâu Cô không để ư tới. Đầu tiên, phần Cô, Cô đă không bộc lộ thương tiếc Elvis Presley. Đáng lẽ Cô cần bộc lộ t́nh cảm ngay từ khi Elvis chứng tỏ tŕu mến với Cô lúc Cô c̣n nhỏ. Chứng nghiệm với Elvis tại Văn Pḥng của Cô có thể giải thích là sự biểu lộ ḷng thương tiếc của Cô với Elvis. Thứ nữa là Cô bầy tỏ ḷng tiếc thương và sự bối rối về thảm kịch của hai người đàn bà trẻ bị xe đụng chết tại Graceland. Sự xuất hiện của Elvis tại văn pḥng đă an ủi Cô phần nào. Điều thứ ba Cô nhận xét là Cô giữ tâm tư thầm kín về mọi mặt của cuộc đời. Được biết với các nhà tâm linh học, một người chối bỏ trạng huống của chính ḿnh, giữ tâm tư thầm kín, th́ trạng huống đó ít nhiều cũng vẫn c̣n giữ trong tư tưởng của người ấy. Trạng huống đó có thể biến thành những giấc mơ như thật, cũng có thể là những h́nh thái của các sự khó khăn hoặc là những khuôn mẫu trong việc giao tế thí dụ như đàn ông cứng rắn lạnh lùng cưới phụ nữ sôi nổi nhậy cảm như để bổ khuyết cho nhau khiến cho đời sống được điều ḥa. Tôi nghĩ có lẽ Hilda đă nén tinh thần đau xót nổi dậy trong ảo ảnh của Elvis, người đă khen ngợi Cô nên hậu quả là làm Cô thức tỉnh cái quan niệm thiển cận của ḿnh. Cuối cùng trước cái ngày định mệnh ấy, Hilda lúc nào cũng sống với sự suy nghĩ khắc khổ. Cô đă từ bỏ các lạc thú b́nh thường của cuộc đời, Cô rất ít khi vui. Ở mức độ nào đó Cô phải khao khát thú vui. Mặt khác Elvis Presley là một người nổi tiếng về ăn chơi, mê phim ảnh, trượt tuyết, cưỡi ngơạ và những tṛ chơi giả tưởng. Với một số người, Elvis Presley là h́nh ảnh của một người yêu đời. Thật là hợp lư,h́nh ảnh của Elvis nổi lên từ đầu óc khép kín của Hilda, để bầy tỏ cho Cô biết Cô cần có thú vui cho cuộc đời. Và như thế Cô bắt đầu cho phép ḿnh được hưởng các thú vui sau khi tṛ chuyện với Elvis. Hilda ngồi b́nh tĩnh, mỉm cười hoan lạc trong khi tôi tóm tắt lại những sự giải thích có thể có được. Khi tôi nói xong, tôi nhận thấy - gần như tự động - Hilda thở ra một hơi dài nhẹ nhỏm. Từ từ rồi mọi sự như qua đi, H́nh như Cô đang đắm ḿnh trong t́nh trạng nghỉ ngơi thoải mái và nh́n thẳng và mắt tôi. Tôi có cảm nghĩ Cô đang xâm nhập tôi. Như thể Cô đang đặt Cô trong hoàn cảnh của tôi. Rồi Cô trở lại b́nh thường và nhận xét câu trả lời của tôi về câu chuyện. Lời phê phán của Cô thật là khôn ngoan, hiểu biết và lanh lợi, tôi xin ghi nguyên văn: "Raymond, Ông đă bỏ ra nhiều năm nghiên cứu các chứng nghiệm bất thường của một số người, nhưng chính Ông th́ chưa có. Đó là một thất bại. Hăy xem tôi. Tôi không bao giờ lưu ư đến việc đó mà nó lại đến với tôi. H́nh như Ông xem có vẻ thèm thuồng và giận tôi. Ông cần phải t́m kiếm chính nơi Ông để t́m được nguồn cội. Ông sợ hăi đề cập đến những chuyện đó theo qui ước thông thường v́ nghĩ rằng chuyện đó không thể xảy ra được. Ông cần phải cởi mở những phần khác của tư tưởng ông. Ông sẽ vui hơn khi làm như vậy." Tôi ngạc nhiên và cảm động về nhận xét của Cô. Rơ ràng là Cô đă ḥa nhập vào lời nói và sắc diện của tôi mà chính tôi cũng không để ư đến. Dù ǵ khi Cô nhận xét về cảm nghĩ day dứt hay khao khát của tôi trong cuộc phỏng vấn với Cô là đúng. Cuộc đàm thoại với Hilda cũng làm cho tôi lưu ư đến cái giới hạn trong phương pháp giải thích vấn đề siêu linh nếu đơn thuần dựa trên tính chất tâm lư của người có chứng nghiệm.Cũng có thể rằng trong một vài trường hợp chứng tỏ trạng huống của chứng nghiệm đă đưa đến sự đối nghịch không giải quyết được trong tư tưởng của người chứng nghiệm. Trong một vài trạng huống đem tâm lư mà giải thích của một chứng nghiệm bất thường có thể bắt nguồn từ những đối nghịch bất thường của tư tưởng người giải thích. V́ vậy nên nếu chối bỏ chứng nghiệm của một ngườ́ khác v́ cho rằng nó phản ảnh những bối rối về tâm linh, dường như người đó bắt buộc cũng chối bỏ dự định của ḿnh để giải thích chứng nghiệm nếu sự giải thích ấy phản ảnh bối rối tâm linh của chính ḿnh.
__________________
Helping the Children ! Support the Children ! Remember SCVNLive . SCVNLive : GO and GO ----------------------- Thank you . |
| The Following User Says Thank You to Tuucuong For This Useful Post: | ||
TungVN (03-20-2010)
| ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch TIẾN SĨ HANS HOLZER Tiến Sĩ Hans Holzer là một trong những nhà tâm lư học nổi tiếng trên thế giới, chuyên khảo cứu và điều tra những vô siêu nhiên. Ông tốt nghiệp Đại Học Đường Columbia, Đại Học Đường Vienna, Đại Học London College of Applied Science (Anh). Ông là giáo sư đă dạy tám năm tại Viện Kỹ Thuật Nữu Uớc. Ông đă được liệt kê trong cuốn "Who's Who In America". Ông đă hướng dẫn độc giả qua các tác phẩm của Ông bằng những tài liệu dẫn chứng xác thực cho rằng chết chưa phải là hết mà đời sống c̣n tiếp tục qua một h́nh thức khác, đó là luân hồi. Tiến Sĩ là tác giả của hơn 80 cuốn sách như Ghost Hunter, Where The Ghosts Are, Best True Stories, Life Beyong Life vân vân... Ông cũng thường xuyên viết các bài khảo luận đăng trên báo chí thế giới như National Examiner vân vân... Chúng tôi xin trích dịch một câu chuyện luân hồi trong cuốn Life After Life của Ông do nhà Xuất Bản Parker Publishing Co phát hành Năm 1985. -ooOoo- PAMELA WOLLENBERG - MỘT THIẾU NỮ HOA KỲ LÀ HIỆN THÂN CỦA MỘT CÔ GÁI TÔ CÁCH LAN (ANH) Sáng nay, một buổi sáng mát mẻ của Tháng 10 Năm 1967. trứêc đống thư mà độc giả trong và ngoài nước gửi tới đă mấy tuần qua (mỗi tuần tôi nhận 300 đến 400 bức) nhưng tôi chưa kịp đọc. Tôi cảm thấy cần giải quyết cho xong. Tôi cố lựa ra những thư nào khẩn cấp để trả lời ngay. Không biết sao tay tôi nhặt lá thư gửi từ Harvey Illinois. Lá thư này cũng giống như các lá thư khác không có ǵ đặc biệt nhưng tôi lại mở ra ngay đọc. Tôi đọc đến 3 lần rồi, tôi tự nḥ mănh lực nào đă thúc đẩy tôi bóc lá thư này trong khi hàng trăm thư khác c̣n nằm trên bàn giấy của tôi sáng hôm đó. Lá thư như sau: "Kính gửi Ông Hans Holzer, "Tôi viết cho Ông bức thư này về một kinh nghiệm bản thân của tôi, có thể kinh nghiệm này không có ư nghĩa ǵ. Tôi đă nh́n thấy cả thảy 3 lần một người con gái Tô Cách Lan đứng dưới chân giường tôi. Tôi không biết cô ta thực sự có nói chuyện với tôi không, nhưng sau khi nh́n cô tôi c̣n nhớ mọi những chữ sau "Castle","Perch" hay "Purth", Ruthvin", "Gowrye", "Sixteen" và "Towers", và một tiếng ǵ nữa như "Burn Night. Tôi chưa kể chuyện này với ai cả v́ có lẽ họ sẽ chẳng tin. Nếu ông t́m thấy điều ǵ qua sự việc trên, ông vui ḷng cho tôi biết, tôi vô cùng cảm kích. Chân Thành, Pamela Wollenberg Bức thư ngắn gọn trên đă làm cho tôi bối rối v́ những chữ mà cô đề cập trong thư chẳng giúp tôi hiểu điều ǵ. Thư không giống như loại thư kể chuyện ma quỷ, tâm lư hay những chuyện lạ lùng xảy ra trong pḥng ốc. Nó cũng chẳng giống một giấc mơ b́nh thường, Cô Wollenberg lại cũng không nói rơ những danh từ đó có phải là địa danh hay không. Bức thư quả đă gợi trí ṭ ṃ của tôi nên tôi viết thư trả lời cô ngay và đề nghị cô cho biết thêm chi tiết về cô gái, hoặc có ai là nhân chứng cho cái kinh nghiệm mà cô kể trong thư. Cô trả lời tôi ngay như sau: "Tôi không có nhân chứng v́ ngoài tôi không ai thấy cô gái Tô Cách Lan này. Cô gái có mái tóc mầu đỏ, ăn mặc sang trọng, choàng chiếc áo dài trắng viền vàng. Đêm hôm nọ tôi lại thấy cô. H́nh như cô nói với tôi chữ "Handsel". Cô có vẻ bị lạc đường, cô vẫn nói chữ "Ruthven", "Gowrie", Sixteen hundred", "Two towers". Cô cũng nói "Glamis-Angus". Cô c̣n nói "Tôi nhảy". Tôi không tin là tôi có liên quan đến Tô Cách Lan, nhưng cũng có thể v́ phía bên mẹ tôi đều là người Anh cả, c̣n phía cha tôi là người Đức. Tôi không biết tôi có thần giao cách cảm hay không nhưng h́nh như tôi nh́n thấy vài việc trong quá khứ. Tôi hy vọng thư này sẽ giúp được ông. Chân Thành, Pamela Wollenberg Sau khi nhận được bức thư thứ hai, tôi quyết định đi Tô Cách Lan để t́m hiểu vụ này. Tôi có quen vài sử gia Anh Quốc, tôi nghĩ là họ có thể làm sáng tỏ được các chữ bí ẩn của hai lá thư trên. Sau lá thư thứ hai, tôi không c̣n liên lạc với cô cho đến khi tôi đến Tô Cách Lan vào mùa hè năm 1969. Tôi mang theo hai lá thư, mặc dù tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Một người bạn thân của tôi là nhà văn Elizabeth Byrd, tác giả cuốn Immortal Queen (Lịch Sử Hoàng Hậu Mary của Anh Quốc) đang cư ngụ tại Highlands. Tôi hy vọng Bà Elizabeth Byrd có thể giúp tôi, nhưng sau khi xem xong hai lá thư, Bà đă không giúp được ǵ cho tôi cả, tuy nhiên Bà có hứa sẽ lưu ư đến việc này. Chúng tôi được mời đến nhà của ông bà Maurice Simpson để dùng bửa cơm trưa. Đây là một ṭa lâu đài ở phía đông bắc Tô Cách Lan gọi là Muchalls. Ông Bà Simpson mời chúng tôi tới lâu đài có mục đích cho tôi thăm một căn pḥng có ma. Nhưng rút cục chẳng có pḥng nào có ma tại lâu đài này cả. Tuy nhiên ông bà Simpson là người khả ái và hiếu khách nên chúng tôi rất vui thích. T́nh ć tôi đưa Ông Bà xem hai lá thư của cô Pamela Wollenberg và hỏi họ xem có ư kiến ǵ về chuyện này không. Không ngờ ông Simpson tỏ vẻ chú ư đến câu chuyện và ông cho biết ông có được nghe một huyền thoại về "Cái Nhảy Của Một Trinh Nữ" xảy ra tại một lâu đài ở Tô Cách Lan. "Quả thật có chuyện này sao?". Tôi tự hỏi và càng quan tâm hơn nữa. Số phận đă đưa đẩy chúng tôi tới Muchalls chẳng phải v́ căn pḥng có ma mà v́ ông bà Simpson là cây đuốc soi dẫn dắt chúng tôi t́m hiểu cái bí ẩn của hai lá thư từ Harvey Illinois. Ông Simpson nói: "Tôi có cuốn sách nói về các toà lâu đài của Tô Cách Lan, để tôi đi t́m". Vài phút sau Ông hớn hở trở lại trong tay cầm cuốn sách nhỏ và mỏng. Cuốn sách có tựa đề "Huntingtower Castle" (Lâu Đài Huntingtower do ông J.S. Richardson viết). Ông Richardson là một cựu thanh tra về các lâu đài cổ của Tô Cách Lan, Lâu Đài Huntingtower lúc này được đặt dưới quyền giám sát của Bộ Công Chánh Xây Cất. Trong khi lật các trang của cuốn sách nhỏ này, tôi cảm thấy tôi có thể khám phá được giấc mộng kỳ lạ của cô Pamela Wollenberg. Lâu đài Huntingtower chính là lâu đài Ruthven có, tên này được đặt từ đầu thế kỷ thứ 13. Nam Tước Ruthven III và IV đă dính líu vào vô ám sát Rizzio, một người được Hoàng Hậu Mary sủng ái. Sau đó, người cha là Nam Tước Ruthven III chết, c̣n người con là Nam Tước Ruthven IV bỏ trốn. Sau đó Hoàng Gia đă ân xá cho phép Nam Tước Ruthven IV được trở về. Nam Tước Ruthven IV tên là William được Vua James phong là Bá Tước Gowrie I vào năm 1581. V́ Vua James c̣n nhỏ nên các triều thần của Vua thực hiện việc phong tước. Một năm sau đó vị Bá Tước mới này đă trả ơn bằng một lối đặc biệt. Ông đă cùng với mấy cộng sự viên bắt vị Vua trẻ, giam vào lâu đài Ruthven gần một năm. Lư do hoàn toàn có tính cách chính trị. Gowrie và các cộng sự của ông không đồng ư để Bá Tước Arran và Công Tước Lennox cầm đầu chính phủ ở Tô Cách Lan. Sau khi đă đoạt được uy quyền của hai nhà quư phái này, Bá Tước Gowrie cùng các cộng sự viên của ông đă uy hiếp vị Vua trẻ phải kư vào bản tuyên cáo kết tội chính phủ cũ. Nhưng vị Vua trẻ tuổi này phản kháng, Glamis, một trong những người giam bắt nhà Vua đă tuyên bố như sau: "Thà là để đứa trẻ khóc c̣n hơn là để người già phải khóc". Vua James không bao giờ quên được câu này. Việc bắt giam Vua của Nam Tước Ruthven là một biến cố trọng đại trong lịch sử của Tô Cách Lan. Biến cố này rát là quan trọng đối với những nhà chuyên môn khảo sát về lịch sử Tô Cách Lan trong thời gian sôi động này. Khi được trả tự do, Vua James lại trở về chịu ảnh hưởng của Bá Tước Arran cho nên việc bắt giam nhà Vua tại Lâu Đài Ruthven không thay đổi được Tô Cách Lan mà làm cho nhà Vua trở thành thù hận với người mà chính nhà Vua đă phong tước, đó là Bá Tước Gowrie I. Ban đầu, nhà Vua đă tỏ ra một thái độ khoan dung, tha thứ cho tất cả những ai dă dính líu đến việc bắt giam nhà Vua và đă ra một tuyên cáo ân xá tất cả những người này. Nhưng hai năm sau, Bá Tước Gowrie được lệnh phải rời khỏi xứ. Trong khi nghỉ ngơi tại Dundee, Bá Tước Gowrie đă bị bắt bởi William Stewart, đầy ra đảo Leith rồi bị giam tại Biệt Điện Hoàng Gia tại Holyrood. Ở đây, Bá Tước Gowrie bị Ṭa Án kết tội v́ âm mưu chiếm lâu đài Stirling và bị chém đầu tại Stirling vào Ngày 4 Tháng 5 Năm 1585. Lâu đài của Bá Tước Gowrie bị Hoàng Gia tịch thu. Một năm sau, lâu đài và chức tước của Bá Tước Gowrie I được trao lại cho người con là James; Bá Tước James chết ít lâu sau đó và người em tên John là người kế vị thứ Ba và cũng là người cuối cùng ḍng dơi Bá Tước Gowrie. Những người thuộc ḍng dơi Bá Tước Gowrie, trong lúc đương thời, được nổi tiếng về gọi hồn và ma thuật. Đương nhiên Vua James đâu đă chịu ngưng báo thù, Bá Tước Gowrie cuối cùng, cùng với người em là Alexander Ruthven đă bị nhà Vua ra lệnh giết chết tại căn nhà của họ tại Thành Phố Perth vào năm 1600. Lư do là họ có ư định tạo phản nhà Vua, nhưng thực ra vụ này không có bằng cớ. Không có chi tiết nào được nói đến trong vô "Bá Tước Gowrie Tạo Phản", tuy nhiên các báo cáo đương thời nói rằng trong giây lưng của viên Bá Tước, người ta t́m thấy có vài tờ giấy ghi những câu thần chú mà chỉ người tinh thông về ma thuật mới có thể đọc nổi. Xác chết của hai anh em ḍng dơi Gowrie được mang về Edinburgh và bản cáo trạng về tội tạo phản đă được phổ biến trước công chúng. Chưa hài ḷng với cuộc hành h́nh hai người cuối cùng của gịng họ Ruthven, Vua c̣n ra lệnh đem hai xác chết ra treo trước công chúng, rồi đem d́m xuống nước, và đem phanh thây ra từng mảnh bỏ rải rác tại nhiều nơi. Theo tín ngưỡng thời bấy giờ hành hạ người chết như vậy là cốt để cho linh hồn tội nhân không được yên ổn. Đầu thế kỷ thứ 17 là một giai đoạn khó khăn trong Lịch Sử Tô Cách Lan. Mọi người nghi kÿ lẫn nhau, t́nh h́nh chính trị thật sôi báng. Sự chia rẽ về tôn giáo không được giải quyết, Tô Cách Lan bị hai Giáo Phái Tin Lành và Cơ Đốc xâu xé. Nhà Vua vẫn c̣n bực bội v́ hận thù. Nghị Viện năm 1600 đă hủy bỏ danh tánh Ruthven, lâu đài Gowrie đổi tên là Huntingtower và thuộc về Hoàng Gia Anh. Cuối cùng đến năm 1643, lâu đài Huntingtower được chuyển cho William Murray, từ đó người ta chỉ c̣n biết đến lâu đài Huntingtower mà thôi. Muốn hiểu rơ lâu đài Ruthven và mối tương quan của các danh tánh Ruthven, Gowrie, cần phải có một kiến thức sâu rộng, một khả năng đặc biệt của sử gia Tô Cách Lan. Thế nhưng một thiếu nữ chưa bao giờ rời khỏi Illinois (Hoa Kỳ) chỉ trong một thoáng đă có thể nói đến nào Ruthven, nào Gowrie, nào năm 1600 và nào hai tháp canh. Cô c̣n nói đến Glamis (vị chủ mưu trong việc giam nhà Vua) và Angus không ngờ có mối quan hệ giữa Glamis ở quận Angus với gia đ́nh Gowrie. Sao cô có thể biết thành phố Perth mà cô đề cập đến trong lá thư đầu chính là nơi Bá Tước Gowrie bị giết? Cô Pamela Wollenberg c̣n viết: "Tôi Nhảy". Cuốn lâu đài Huntingtower đă cho tôi hiểu được về câu nói bí mật này: "Một ái nữ của Bá Tước Gowrie đang yêu một thanh niên thuộc giai cấp thấp hơn nên không đuọc gia đ́nh chấp thuận. Khi thanh niên đến thăm cô, anh phải ở trong một tháp canh khác biệt lập hẳn với tháp canh của cô. Một đêm nọ cô lén sang thăm người yêu trước khi các cửa nẻo bị đóng. Một con hầu báo cho Bá Tước phu nhân biết chuyện này, nó thiển nghĩ nếu Bà đột nhập, bắt gặp sẽ làm họ kinh ngạc và cắt đứt mối t́nh ngang trái. Thiếu nữ rất thính tai, nghe bước chân Mẹ đă chạy lên bờ thành tháp canh, nhảy qua cái hào rộng 9 feet 4 inches (3 mét), sâu 60 feet (18 mét) và may mắn sang được tháp bên kia; cô lẻn lên giường nằm. Thấy cô ở đó mẹ cô rất kinh ngạc, Bà xin lỗi đă ngờ vực cô. Cô con gái trinh trắng không tái diễn tṛ này nữa nhưng đêm hôm sau, cô trốn theo người yêu. Cái thành tích hiếm có này được gọi là "Cái Nhảy Của Người Trinh Nữ"; cô đă nhảy qua khoảng cách giữa hai tháp canh cách biệt hẳn nhau". Đọc xong cuốn sách, chúng tôi đều im lặng, cảm thấy tin tức trong cuốn sách thật là quan trọng. Vấn đề c̣n lại là t́m hiểu âm mưu tạo phản của gịng họ Gowrie cũng như tên người con gái. Vậy cần phải có một cuộc điều tra mới. Tôi nghĩ đến cô Pamela Wollenberg v́ chính cô đă cho những bằng chứng cụ thể lúc sơ khởi và rất có thể qua cô tôi t́m được câu trả lời. Tôi quyết định không kể cho Pamela Wollenberg biết cuộc điều tra của tôi và tôi thu xếp gặp cô sớm để thực hiện cuộc thí nghiệm bằng thôi miên. Tôi không biết tí nào về Pamela Wollenberg, cô bao nhiêu tuổi và t́nh trạng gia đ́nh ra sao nhưng tôi hy vọng cô không có lư do từ chối lời đề nghị của tôi. Tại Muchalls bửa cơm tối hôm ấy có sự hiện diện của Ông Bà Alastair Knight. Bà Alanna Knight là một nhà tâm linh học uyên bác. Bà đă viết nhiều truyện về lịch sử. Bà hứa sẽ giúp tôi t́m hiểu trường hợp khác thường này. Thêm vào đó Bà Elizabeth Byrd c̣n giành được sự t́nh nguyện trợ giúp của Sử Gia Carson Ritchie. Sử Gia Ritchie cho biết muốn t́m tên những người con gái thời đó rất khó v́ người ta không khai sanh cho con gái chỉ trừ có hoàng tộc mà thôi. Được sự giúp đỡ của cả một đội quân hùng hậu trên đây, tôi tin chắc có thể t́m ra bí mật về giấc mơ của cô Pamela Wollenberg. Ông Bà Knight quyết định sẽ đến lâu đài Gowrie. C̣n 2 từ ngữ trong ảo mộng của Cô Pamela Wollenberg chưa cắt nghĩa được. Trước tiên là chữ "Burn night", chữ thứ hai là "Handsel"; từ ngữ này hoàn toàn xa lạ với tôi. Làm sao tôi có thể t́m được nghĩa của cái chữ lạ hoắc này? Mấy năm trước đây Bà Elizabeth Byrd có giới thiệu tôi với Bà Margaret Widdemer. Bà này là người đọc rộng, có một tủ sách quư. Bà Elizabeth Byrd khuyên tôi nên hỏi ư kiến của Bà Widdemer. Bà Widemer viết cho tôi: "Theo tự điển Tô Cách Lan, tôi có thể giải nghĩa chữ "Handsel" có nghĩa là quà mừng nhân dịp khai trương, một tặng vật, ngày thứ hai, một đồng tiền để trong túi áo choàng mới hay Tương tự. "Handsel" có nghĩa là khánh thành, khai mạc, quà mừng. Tôi cảm thấy hân hoan khi hiểu nghĩa chữ "Handsel". Theo Bà Widdemer: "Với tôi chữ này có nghĩa món tiền kiếm được hoặc một vật ǵ đó được ngă giá, tiền hay không phải tiền. Có thể cô gái tóc đỏ mà ông nói đó đă hứa theo người yêu nếu như cô nhảy thoát". Nghĩa chữ "Handsel" là như vậy. Mặc dầu tôi chưa gặp mặt Pamela Wollenberg nhưng các mảnh của tṛ chơi ghép h́nh đă được sắp đúng chỗ. Ông Bà Knight sắp sẵn đi thăm lâu đài Gowrie. Ông Knight là một nhà Địa Dơ Học. Ngày 6 tháng 8, họ bắt đầu lên đường xem chuyến đi như một công tác thường lệ của ông Knight. Ông Bà dự định đến thăm lâu đài Scone nhưng không t́m ra đường đành đi thăm một người bà con ở Dundee. Ông Bà tính đi đường tắt nhưng bị lạc. C̣n đang lúng túng th́ Ông Bà nh́n thấy tấm bảng: "Lâu Đài Huntingtower 2 dậm". Ông Bà Knight đă sẵn có ư định đến thăm lâu đài Gowrie nhân ngày kỷ niệm 2 vị Bá Tước cuối cùng của gịng họ Gowrie bị hành quyết. Mặc dầu tôi đă từng mục kích Bà Knight dùng giác quan thứ 6 có kết quả nhưng bây giờ Bà lại không cần đến khả năng siêu linh. H́nh như Bà có thể nh́n thấu màn thời gian, làm sống lại các biến cố đă qua. Đến lâu đài, Bà có cảm giác quen thuộc lạ thường. Vừa đặt chân vào lâu đài Huntingtower, Bà đă cam đoan là trước đây Bà đă từng ở. Chồng Bà xác nhận ông bà chưa bao giờ ở trong lâu đài này, thế mà Bà Knight biết được lối vào. "Đây là pḥng ngủ, giường ngủ ở đằng kia". Bà vừa nói vừa chỉ. Bà đi hết pḥng này sang pḥng khác vừa đi vừa hát nho nhỏ. Cậu con trai Christopher hỏi Bà: "Mẹ đang hát bài ǵ vậy?" Bà không trả lời con nhưng bài đó có nhịp điệu giống bài ca do tôi sáng tác với nhan đề: "Nàng Trinh Nữ Trên Đồng Cỏ". Bà chưa bao giờ được nghe hay thấy bản nhạc này. Bà chỉ biết là tôi có sáng tác bài hát liên quan đến Tô Cách Lan mà thôi. Lúc đi ngang qua người quản thủ lâu đài, Bà Knight đă hỏi ngay về cánh đồng Ruthven làm như có được ghi trên bản đồ. Theo lời chỉ dẫn của người quản thủ, đi dọc theo vài con đường đẹp quanh co h́nh như rất quen thuộc với Bà, Bà đă tới băi cỏ dễ dàng. Những cảm giác khi trước mờ ảo lúc này trở nên rơ ràng với Bà. Khi sắp sửa soạn rời khỏi lâu đài, ông Knight lo lắng sợ bị lạc nữa, nhưng Bà Knight đă khẳng định: "Đi thêm khoảng 20 thước, có cái cầu đá có ở bên phải dẫn đến con đường cái". Quả đúng như vậy, trên đường về Bà Knight không quên được những biến chuyển trong giờ phút cuối cùng. Vừa tới lâu đài, Bà Knight vội vàng bà lên bờ thành dốc. Bà ngồi đó, trên bờ thành, cách mặt đất khoảng 60 feet (18 thước) Hai ngọn tháp cổ đă tùng cách biệt hẳn nhau ngày xưa th́ bây giờ được nối với nhau bởi phần giữa. Ỏ đầu thế kỷ thứ 17, giữa hai tháp canh có một hào sâu 9 feet (3 mét). Muốn nhảy từ ngọn tháp bên phải cao hơn tháp bên trái một tầng, phải nhảy qua một cái hào. Thành tháp 2 bên đều có ǵ, có trụ nhô ra, gối lên nhau, nhảy qua không phải dễ dàng và có thể ngă xuống mái nhà. Quả là dóng cảm phi thường mới dám nhảy qua. Sau cùng Bà Alanna Knight rời tháp canh và trở vào bên trong lâu đài. Trong pḥng ngủ, Bà có cảm tưởng như nh́n thấy cô gái tóc đỏ vàng, da xanh xao hơn là ngăm ngăm và mặt lốm đốm tàn nhang. Nói theo lối mới, Bà Alanna Knight nhận xét - Cô có vẻ tinh nghịch, lém lỉnh hơn là hiền lành, "một loại con gái dám làm bất cứ chuyện ǵ". Bà cảm thấy cô là "người lănh đạo đàn ông chứ không phải một nhi nữ tầm thường". Bà nói: "Tôi nghĩ cô là người vui vẻ, cười nhiều, bị chống đối bởi gia đ́nh. Tôi cảm thấy thế kỷ thứ 16 không thích hợp với cô - cô đă sanh nhầm thế kỷ - cô sẽ hạnh phúc hơn ở thời đại này v́ cô khao khát b́nh đẳng với nam giới, thèm muốn ra xă hội đấu tranh. Có thể tên cô là Margaret hay Isabelle, hay cả hai đấy, những tên rất Tô Cách Lan. Sự thực cảm nghĩ này không lấy ǵ làm hứng thú lắm. Tôi hy vọng sẽ có ngày nào đó ông biết được câu trả lời". Tôi hỏi Bà Alanna Knight bài hát "Cô Trinh Nữ Trên Đồng Cỏ" (The Maid Of The Meadow) mà Bà nhớ và cảm nghĩ đối với bản nhạc này. Bà cho biết Bà không phải là nhạc sĩ nên đă nhờ một người bạn tên Ann Brand ghi lại cho Bà. Tôi thích thú xem bản nhạc. Thật là lạ, có bốn nhịp giống như hệt trong bản trường canh do tôi sáng tác năm 1953 mà Bà Knight cũng như người bạn của Bà không biết. Chắc chắn đó không phải một bà hát toàn vẹn chỉ đơn thuần có một đoạn nhưng sự giống nhau th́ nổi bật. Bà Knight cho biết thêm "Tiến Sĩ Ritchie đă t́m được lai lịch của một cô gái ḍng dơi Ruthven trong cuốn lịch sử Tô Cách Lan của Robertson xuất bản năm 1759. Theo ông Bá Tước Gowrie có người con gái tên là Beatrix. Lẽ dĩ nhiên Bá Tước có thể có nhiều chị hay con gái nhưng cuốn lịch sử chỉ ghi tên Beatrix mà thôi. Trong lúc này Bà Elizabeth Byrd cũng hứa cố gắng cho tôi biết tin tức thâu lượm được ở Edinburgh." Trong khi mọi hoạt động đang ráo riết sôi nổi bên kia bờ Đại Dương th́ tôi đi Chicago để gặp Pamela Wollenberg. Cô Pamela Wollenberg đồng ư đến khách sạn Knickerbocker gặp tôi và cũng bằng ḷng cho tôi thực hiện thôi miên để thí nghiệm. Tôi cho cô biết tôi đă t́m thấy vài bằng chứng về giấc mộng của cô nhưng không nói ǵ thêm. Ngày 17 Tháng 10 Năm 1969 Cô Pamela Wollenberg đến khách sạn. Cô vừa bước vào pḥng, tôi có hơi ngạc nhiên v́ cô không giống như tôi tưởng. Thay v́ một người bất b́nh thường, lăng mạn, tuổi tác khó đoán, tôi thấy cô rất trẻ khoảng 20, 21, hoạt bát, thực tế có vẻ không thích khoa học huyền bí. Tôi muốn được phỏng vấn cô trước khi thôi miên. Cô đồng ư. Tôi tiến hành ngay. "Pamela" - Tôi bắt đầu cuộc phỏng vấn -"Cô sanh tại đâu?" "Tại Chicago Heights" "Cha cô làm ǵ?" "Cha tôi đă chết. Hồi c̣n sống ông làm trong xưởng chế tạo đầu máy xe lửa c̣n mẹ tôi là một công nhân trong bệnh viện kiểm soát sự dinh dưỡng". "Gốc gác của cô thế nào?" "Gia đ́nh bên cha tôi là người Black Forest, Đức Quốc, c̣n gia đ́nh bên mẹ tôi là người Anh Quốc". "Mẹ cô sanh tại đây phải không?" "Phải". "Tổ tiên cô có ai là người Tô Cách Lan không?" "Theo tôi biết th́ không". "Cô có bao nhiêu anh chị em?" "Tôi có hai chị và một người anh, những người này cùng mẹ khác cha". "Gia đ́nh cô theo đạo ǵ?" "Cha tôi theo Lutheran, mẹ tôi theo Baptist". "C̣n cô?" "Tôi theo đạo Mormon". "Cô đă 21 tuổi, vậy cô đi làm chưa?" "Tôi đă đi làm tại bệnh viện, đă đi học y tá, và bây giờ công việc của tôi là trông nom một người đàn bà; bà ta bị bệnh. Khi nào có đủ tiền tôi muốn đi học lại". "Trường học của cô ra sao, cô học trường công?" "Tôi học ở Glenwood, ngoại ô Chicago Heights c̣n sau th́ ở Harvey, nơi tôi đang cư ngụ". "Cô có bao giờ mường tượng đến hay có các ảo giác về những nơi cô bao giờ thăm viếng không?" "Tôi đă nh́n thấy người, tôi thề là tôi đă nh́n thấy trước đây ở một nơi nào đó và không thể nào có chuyện đó dược". "Cô có ở Âu Châu bao giờ chưa?" "Chưa". "Cô có bao giờ ao ước đi Âu Châu không?" "Ồ, có tôi thích Âu Châu. Tôi muốn xem các lâu đài". "Lần đầu tiên ư nghĩ này đến với cô vào lúc nào?" "Khoảng 3 năm nay, lúc tôi 18 tuổi.."Tôi vẫn nhớ tôi có một lâu đài, lâu đài lớn sơn mầu trắng và có các tháp canh". "Có bao nhiêu tháp canh?" "Lối 2 hay 3 cái, giống như một tảng đá như quả núi hoặc cái ǵ đó". "Cô thường đọc sách ǵ?" "Tôi thích loại sách bí ẩn". "Cô có đọc truyện về lịch sử không?" "Sách về lịch sử tôi không thích mấy, chỉ có một lần, tôi đọc lịch sử Waterloo". "Cô thích loại âm nhạc nào?" "Nhạc cổ điển và dân ca, không phải những bản dân ca ông nghe bây giờ. Tôi muốn nói dân ca Âu Châu như Anh Quốc". "Có bao giờ cô thấy bản nhạc đặc biệt trong trí nhớ của cô không?" "Thỉnh thoảng tôi có nghe thấy tiếng kèn của mục sư Tô Cách lan ". "Và lúc nào cô nghe thấy?" "Thường thường vào ban đêm, khi tôi sắp sửa ngủ". "Đă bao lâu cô nghe tiếng kèn này?" "Có thể nói là một năm rưỡi hay hai năm". "Có bao giờ cô thấy lạ lắm ở chung quanh cô không?" "Tôi có thể nói như vầy: Tôi nghĩ là tôi không thuộc về hiện tại, chung quanh đây". "Cô có thể cho tôi biết cô cảm thấy như thế bắt đầu từ khi nào?" "Chừng độ 3 năm vừa qua, thực sự tôi cảm thấy tôi không quen người nào ở đây mà h́nh như tôi quen một số người ở những nơi khác trên thế giới". "Ở đâu?" "Tôi nghĩ rằng quần đảo Anh Quốc quyến rũ tôi hơn là Âu Châu. Đúng quần đảo Anh Quốc đă quyến rũ tôi". "Có bao giờ cô cảm thấy có lẽ lúc cô bị mệt mỏi khi nh́n vào trong gương, hay khi đi tản bộ, cô tự nhận thấy cô khác với cô trong hiện tại, có cái ǵ đă làm thay đổi trong cô, thay đổi cá tính, tính nết hay bộ mặt?" "Đúng, có một lần tôi nhớ rất rơ ràng v́ lần đó tôi đă giựt ḿnh. Người con gái mà tôi nói trong giấc mơ với mái tóc đỏ, một hôm nh́n vào gương, tôi không hiểu tại sao như chính tôi là cô gái đó hay là tôi đă nh́n thấy cô ta ở đó". "Cô thấy hồi nào?" "Độ chín tháng nay". "Chỉ có một lần duy nhất cô cảm thấy như thế à?" "Tôi cảm thấy như có người nào đó ở trong tôi". "Cô cảm thấy như vậy từ bao lâu?" ""Cách đây hai hay ba năm". "Có cái ǵ làm cho cô sợ hăi không?" "Không. Tôi không thấy thế". "Nào bây giờ chúng ta nói chuyện về những giấc mơ nhé!" "Giấc mơ đầu tiên tôi thấy cách đây hai năm. Những giấc mơ này thỉnh thoảng lại đến với tôi. Tôi nh́n thấy thiếu nữ với mái tóc đỏ. Cô mặc một cái áo choàng dài trắng, có viền vàng. Cô ta đang đi nhưng có vẻ rụt rè.Cũng ở trong giấc mộng đó, tôi nh́n thấy hai tháp canh và tôi nghe thấy cô ta nói "Handsel", rồi Glamis, Angus, Ruthven, Gowrie và một lần cô nói "Tôi nhảy". Có lần trông cô rất b́nh thản, nhưng cũng có lần trông cô rất giận dữ". "Cô thiếu nữ đó chúng bao nhiêu tuổi?" "Chừng độ 20 tuổi". "Thấp hay cao?" "Thấp và hơi nhỏ". "Đẹp hay xấu, có ǵ đặc biệt không?" "Không có ǵ đặc biệt cả, nhưng làn tóc đỏ của cô rất là đẹp". "Tóc dài hay tóc ngắn?" "Tóc dài, rất nhiều". "Giấc mơ đến không chừng hay vào giờ nhất định?" "Tôi có thể nói hầu hết đều cùng một giờ, ngoại trừ những lần cô ta giận dữ". "Cô nằm mơ như vậy cả thảy bao nhiêu lần?" "Năm hay sáu lần". "Lần cuối cùng vào bao giờ?" "Lần cuối cùng tôi nghĩ vào tháng 7". "Năm nay?" "Vâng". "Lúc cô ta đang tức giận?" "Rất tức giận". "Những giấc mơ như vậy kéo dài suốt đêm, hay chỉ trong chốc lát?" "Rất là nhanh, tôi muốn nói: khi tôi vừa thấy cô, cô muốn nói điều ǵ rồi đi ngay". "Tại sao cô nhớ rơ ràng giấc mơ này như vậy, Cô nhớ được tất cả các giấc mộng này sao?" "Về thiếu nữ đó tôi nhớ rất rơ ràng, ông có thể cho tôi là nằm mơ, nhưng thực ra tôi chưa ngủ". "Việc xảy ra đầu hôm, giữa đêm hay cuối đêm? "Lối chừng 11 giờ rưỡi, hoặc trước 2 hay 2 giờ rưỡi khuya". "Ngoài các giấc mơ như vậy cô có cảm giác như có ai chung quanh cô không? Tôi muốn nói khi cô tỉnh dậy". "Tôi không biết có phải thiếu nữ ấy không, nhưng tôi cảm thấy như có ai ở cạnh tôi khi có ḿnh tôi ở nhà". "Khi cô liên lạc với tôi, cô có nghĩ rằng đă có ai đó thúc đẩy cô làm chuyện này không?" "Tôi cảm thấy tôi phải viết thư cho ông trong khi không có lư do". "Đối với riêng cô, việc này có ư nghĩa ǵ không?" "Chỉ có một điều tôi hằng nghĩ đến là chữ "Handsel cho tôi". Tôi nghĩ rằng "cho tôi" phải có nghĩa là vật ǵ đó. Có thể "Handsel" nghĩa là đến với tôi nhưng sao cô ta lại muốn tôi đến với cô ấy?" "Có ǵ đặc biệt, chẳng hạn như quần áo, vật dụng, âm nhạc, thói quen, câu nói, hay bất cứ thứ ǵ khác hẳn với bản tính của cô, nhất là từ khi cô 18 tuổi tới nay, cô hăy cho tôi biết?" "Tôi thích nấu bất cứ món nào đến từ quần đảo Anh Quốc. Tôi có 3 cuốn sách dạy cách nấu những món ăn Anh. C̣n về quần áo tôi thích mặc theo kiểu cổ hơn". "Cô có bạn trai nào gốc Anh Cát Lợi hoặc Tô Cách Lan không? Tôi muốn nói quê hương của họ." "Không". "Có khi nào cô đọc sách nói về Anh Quốc trong phạm vi lịch sử, quá tŕnh, hay địa dư không?" "Có một lần tôi đọc sách nói đến tháp canh ở Luân Đôn và nói về hoàng gia, chỉ có vậy thôi". "Theo nhận xét của cô, cô có thấy những hiện tượng đă xảy ra trong đời cô có nghĩa lư ǵ không?" "Tôi không rơ, trừ khi có người nào nói cho tôi biết. Tôi cảm thấy tôi quen thiếu nữ đó. Tôi không biết tại sao tôi lại quen cô ta nhưng tôi cảm thấy tôi quen cô ấy" "Giấc mơ đầu chỉ là cảnh thoát khỏi sự buồn chán, không nói lên điều ǵ phải không?" "Lần thứ nhất tôi không quan tâm mấy, cho là mộng mị, nhưng giấc mơ cứ tái diễn, và mỗi lần như vậy tôi cảm thấy thân thiết với cô ta hơn". "Bây giờ cô đă sẵn sàng để tôi thôi miên chưa?" "Tôi đă sẵn sàng". Vài phút sau, Pamela đă ở trong t́nh trạng hôn mê thư giăn, và phục tùng mệnh lệnh của tôi. "Cô hăy quay về 100 năm, 200 năm, 300 năm cho đến khi nào cô nh́n thấy cô gái có mái tóc đỏ". Một lúc sau Pamela bắt đầu nói: "Ruthven", giọng nói của cô thật b́nh thản. Tôi bắt đầu hỏi: "Cô sống trong đó phải không?" "Tôi sống ở đó". "Cha cô là ai?" "Cha tôi không có ở đó". "Có người nào ở đó với cô không?" "Có mẹ tôi". "Tên mẹ cô là ǵ?" "Tôi không biết, tôi không nói". "Tại sao?" "Bởi v́ họ đang âm mưu chống lại chúng tôi nên tôi không thể nói ra được." "Cô đang ở năm nào?" "Năm 1600" "Năm 1600 nào?" "Đúng là năm 1600". "Quê hương cô ở đâu?" "Tô Cách Lan". "Tại sao cô lại có vẻ lo sợ?" "Chúng tôi sắp sửa phải rời nơi đây". "Tại sao?" "Họ sẽ giết chúng tôi nếu chúng tôi không đi khỏi chỗ này". "Ai định giết cô?" "Tôi không biết, cha tôi chỉ cho biết 'các người ấy'". "Cô phải làm ǵ?" "Tôi không biết, mẹ tôi đang sửa soạn hành lư". "Cô đi đâu?" "Đi Glamis". "Tại sao lại đến đó?" "Có Hoàng Gia ở đó". "Họ sẽ giúp cô sao?" "Tôi không biết". "Cô hăy tả căn nhà của cô đi!". "Nhà làm bằng đá". "Gọi là ǵ?" "Breasten". "Nhà được kiến trúc như thế nào?" "Có hai tháp canh, có vườn hoa". "Cô có lên tháp canh chơi không?" "Tôi thường chơi trên đó". "Cô chơi ǵ? "Tôi hay chơi với những chiếc chén kiểu nhỏ Trung Hoa". "Lúc bấy giờ cô bao nhiêu tuổi?" "Bốn hay năm tuổi". "Bây giờ cô bao nhiêu tuổi?" "Bây giờ tôi 22 tuổi". "Cô c̣n độc thân hay đă lập gia đ́nh?" "C̣n độc thân". "Cô có quen biết người đàn ông nào mà cô định lấy làm chồng không?" "Có". "Tên anh ta là ǵ?" "Tôi không nói". "Tại sao?" "Coi như tôi không gặp anh ta". "Tại sao?" "Gia đ́nh tôi không cho phép". "Tên anh ta là ǵ?" "Mẹ tôi bảo nếu tôi nói, tôi sẽ bị trừng phạt" "Vậy cô phải làm ǵ? Sau này cô có gặp anh ta không?" "Có". "Ở đâu?" "Ở Loch Catherine". "Có xa không?" "Không xa lắm". "Anh có khi nào đến lâu đài không?" "Có". "Ở đâu, chỗ nào của lâu đài?" "Trong dẫy hành lang chính". "Không bao giờ ở trên lầu?" "Chỉ có một lần thôi, v́ không được phép." "Anh ta có lên tháp canh lần nào không?" "Chỉ có một lần v́ mẹ tôi không biết". "Cô làm ǵ?" "Chúng tôi nói chuyện". "Sau đó cô lấy anh ta không?" "Không thể"' "V́ sao?" "Vi gia đ́nh cấm tôi lấy anh ta và bắt tôi phải lấy người khác'' "Tại sao gia đ́nh lại muốn cô lấy người khác?" "V́ ông này giàu có". "Người yêu của cô không giàu có à?" "Phải, không được giàu" "Tại sao cô phải nói chuyện theo cách này? Cô có liên hệ thế nào với cô ta (Pamela)? Cô là cô ta, hay cô nói qua cô ta?" "Tôi là cô ta." "Vậy th́ trong thời gian chưa phải là cô ta (Pamela), cô ở đâu? cô có là người nào khác không? "Không, tôi bị gió cuốn". "Cô chết ra làm sao?" "Tôi nhảy từ tháp canh". "Có phải cô bị chết trong khi nhảy?" "Đúng, tôi chết sau đó". "Cô định nhảy đi đâu?" "Tôi định nhảy qua một tháp canh khác". "Có được không?" "Không". "Cô bị ngă xuống đâu?" "Ngay trước cửa". "Có phải đây là lần đầu cô nhảy từ tháp canh này qua tháp canh kia không?" "Không". "Cô đă có nhảy rồi à?" "Phải". "Thế cô nhảy được à?" "Phải". "Và lần này cô nhảy qua không được nên bị chết phải không? Cô bao nhiêu tuổi lúc ấy?" "22 tuổi". "Đó là tai nạn hay là cô muốn nhảy?" "Tôi muốn". "Có phải cô không được vui không?" "Đúng". "Khi cô chết sự việc tiếp diễn như thế nào?" "Chẳng thấy ǵ cả". "Sau khi cô ngă, chuyện ǵ xảy đến với cô? cô nh́n thấy ǵ?" "Tôi ở trong gió". "Cô tự nh́n thấy ḿnh sao?" "Phải". "Rồi cô đi đâu?" "Không đi đâu cả". "Thế cô có nh́n thấy ai không?" "Không". "Thế cô ở ngoài hay cô trở vào lâu đài?" "Tôi có trở về lâu đài một lần". "Cô có nh́n thấy ai không?" "Không". "Rồi tiếp tục chuyện ǵ xảy ra cho cô? Cô sống ở đâu?" "Tôi lại bị cuốn lần nữa". "Sau đó rồi cô nhớ ǵ nữa?" "Tôi nh́n thấy người". "Các người nào?" "Những người ngộ nghĩnh đang đi ṿng quanh". "Họ cũng chết rồi phải không?" "Không". "Rồi cô ở đâu?" "Tôi ở trong một thành phố". "Cô nhập vào một người nào khác phải không?" "Không". "Cô vẫn là cô à?" "Phải". "Cô nói thành phố nào?" "Tôi không biết". "Có phải những người đó ăn mặc giống như thời mà cô biết phải không?" "Không". "C̣n cô, cô vẫn mặc theo thời của cô phải không?" "Phải, tôi có thể nh́n thấy cái áo choàng của tôi". "Những người nh́n tức cười đó có thấy cô không?" "Không, họ đi bên cạnh tôi". "Rồi tiếp tục cô nhớ những ǵ nữa?" "Tôi muốn người nào đó đưa tôi trở về". "Vè đâu?" "Về Ruthven". "Cô có t́m được ai không?" "Có, Pamela". "Làm sao Pamela có thể đem cô trở về được?" "Cô ấy sẽ mang tôi trở về". "Tại sao cô lại nhập vào Pamela, chính cô chọn Pamela à?" "Vâng, dường như cô ấy có thể trở về". "Ai là người nói với cô về Pamela, bằng cách nào cô đă t́m ra Pamela?" "Tôi t́m thấy cô ta khi tôi vào nhà". "Nhà nào?" "Nhà của cô ấy". "Điều ǵ khiến cho cô tin là Pamela có thể làm được?" "Cô ta sẽ cảm thấy hối hận và đưa tôi trở về". "Có phải cô đă ở trong cô ấy phải không? Ở trong thân h́nh cô ấy phải không?" "Phải, tôi cùng cô ấy trở về". "Ai gửi cô đến với cô ta?" "Không có ai cả". "Rồi tại sao cô t́m ra cô ta (Pamela)?" "Tôi cũng không biết nữa". "Cô có nói chuyện với người nào không? Và có nhờ người ta giúp đỡ không?" "Không ai có thể nghe tôi được mặc dầu họ vẫn đi bên cạnh tôi". "Có ai nói rằng: "Cô phải trở về dương thế " hay tương tự như vậy không?" "Không". "Cô có nhớ cô tái sanh như một đứa nhỏ không?" "Không". "Cô có thấy cô nghĩ ǵ sau khi cô thấy Pamela không?" "Cô ta cũng giống như mọi người khác". "Giống ai, giống cô phải không?" "Không". "Vậy th́ th́ theo cô, Pamela giống ai?" "Cô ấy trông giống một người trong bọn Mc Gibbon" "Giống ai trong bọn Mc Gibbon?" "Cô ta giống Catherine". "Catherine của bọn Mc Gibbon, vậy theo cô, Catherine là ai?" "Tôi không biết rành về Catherine, tôi chỉ gặp Catherine ở Angus thôi". "Tại sao cô đi Angus?" "V́ chúng tôi phải đi Glamis". "Cô có đi ngang Angus không?" "Không v́ Glamis nằm trong Angus". "Catherine làm ǵ ở Glamis?" "Cô ấy sống ở đó". "Cô ấy làm ǵ ở đó?" "Cô ấy là một tỳ nữ". "Nữ tỳ của ai?" "Nữ tỳ trong lâu đài của Hoàng Gia". "Pamela gợi cho cô nhớ lại cô ấy phải không?" "Đúng". "Có phải định mệnh đă trói buộc cô vào Pamela không?" "Vâng, tôi phải trở về". "Để làm ǵ?" "Tôi cần kiếm một vật". "Kiếm cái ǵ?" "Cái nhẫn". "Ai là người cho cô cái nhẫn?" "Tôi không nói". "Cái nhẫn đó thế nào?" "Cái nhẫn đó tṛn bằng cẩm thạch". "Có khắc ǵ trên chiếc nhẫn đó không?" "Không". "Tại sao việc kiếm cái nhẫn lại quan trọng như thế?" "V́ là cái nhẫn người đó cho tôi". "Người đó là ai?" "Tôi sẽ bị trừng phạt nếu tôi nói ra". "Cô không bị trừng phạt đâu, tôi lấy danh dự mà nói như vậy, cho tôi biết tên người đó đi, rồi tôi sẽ giúp cô được". "Tôi không thể t́m được người đó. Tôi chỉ muốn lấy lại cái nhẫn mà thôi". "Cô hăy gọi tên anh ta đi, anh ta sẽ đến với cô". "Tôi sẽ bị trừng phạt. Tôi sẽ ra đi" "Cô đi đâu?" "Đến Loch Catherine, tôi cảm thấy hạnh phúc ở đó". "Với ai?" "Anh ấy muốn đưa tôi tới đó. Chúng tôi sẽ tính đến chuyện ra đi". "Cô dự định đi đâu nếu có thể đi được?" "Đi khỏi Perth". "Đi khỏi Perth rồi về đâu?" "Anh ấy thích đến Luân Đôn". "Anh ta làm nghề ǵ?' "Anh muốn trở thành một kiến-trúc-sư". "Anh ta có đi học chưa?" "Có học sơ sơ thôi v́ không được phép". "Anh ta không thuộc ḍng dơi quư tộc?" "Anh cũng thuộc ḍng dơi quư tộc nhưng cha anh không muốn anh làm nghề đó". "Tại sao cô chỉ nhập vào Pamela lúc 18 tuổi, tại sao cô không nhập vào sớm hơn?" "V́ ở tuổi này cô ấy mới trưởng thành và có thể ra đi". "Cô có thể giúp cô ta tới đó không? Tại sao cô phải t́m đến tôi?" "V́ có thể ông giúp cô ấy được". "Cô muốn tôi phải làm ǵ?' "Tôi muốn trở về". "Nếu tôi hứa giúp cô trở về, cô sẽ cho tôi biết tên người bạn trai của cô nhé!" "Tôi có thể trở về à?" "Tôi sẽ cố gắng t́m cách để cô trở về, phải tôi đă có liên lạc với nơi đó và biết cô nói thật". "Pamela sẽ đưa tôi về à?" "Tôi sẽ cố gắng để Pamela đua cô trở về trong ṿng một năm". "Tôi phải đợi lâu quá". "Cô đă đợi bao lâu rồi?" "Cả hàng trăm năm rồi" "Vậy cô cố gắng chờ thêm một năm nữa đi, thời gian đă trôi qua, có lẽ cái nhẫn cũng không c̣n ở chỗ có nữa rồi làm sao đây?" "Tôi sẽ t́m và t́m cho bằng thấy". ""Bây giờ cô có sung sướng được nhập trong thể xác của Pamela không? Cô có được Pamela ưng thuận không? Cô có thích là cô ấy không?" "Chỉ với mục đích được trở về mà thôi". "Tôi hăy c̣n ṭ ṃ muốn biết tại sao lại như thế, và bằng cách nào cô đă t́m ra cô ấy (Pamela) ở đây. Cô có biết cô đang ở nuớc nào không?" "Không". "Cô nghĩ rằng cô đang ở đâu? Cô có biết tên của nước mà cô đang ở không? Không phải là Tô Cách Lan đâu". "Tôi không phải ở trong quần đảo đâu". "Không, cô có biết từ khi cô c̣n sống cho đến nay, một thời gian dài đă trôi qua, cô có bao nhiêu lâu rồi không?" "Hàng trăm năm". "Cô có thể cho tôi biết tên người trẻ tuổi ấy không?" "Tôi không t́m thấy anh ấy, ông cũng không thể mang anh ấy trở lại đượcc". "Cô hăy kể cho tôi biết cái âm mưu đă làm cô sợ hăi? Ai đă nhúng tay vào vụ này?" "Cha tôi chỉ cho biết họ là những người chống lại cha tôi". "Ai?" "Tôi chỉ biết cha tôi là Gowrie thôi". ""Cha cô ở cấp bậc nào?" "Tôi không rơ, khi họ đến tôi phải vào tháp canh". "Và khi gọi cô, họ gọi thế nào?" "Tôi muốn cha tôi trở lại". "Tôi sẽ giúp cô. Cô có thể nói cho tôi biết tên cô được không, tên thật của cô đó?" "Tôi phải t́m trong cuốn Thánh Kinh". "Cô đi t́m trong cuốn Thánh Kinh đi và nói cho tôi biết Thánh Kinh viết ǵ?" "Không, tôi phải đi gặp ông ta ". "Cô sẽ gặp ông ta, nếu như ông ta bằng ḷng để cô gặp ông ta" "Không, tôi muốn gặp Peter". "Peter, ông hăy đến với cô đi. Nếu ông đă tái sanh, nói cho cô ấy biết, hiện giờ ông ở đâu để rồi cô ấy có thể đến với ông được. Ông hăy nói như thế này: Tôi, nói tên ông, muốn gặp cô. Rồi ông đó sẽ đến với cô." "Chúng tôi không thể nói cho ai biết được ". "Chỉ có tôi và cô là hai người biết mà thôi". "Không, khi chúng tôi rời lâu đài, mẹ tôi nói "không" ". "Nói tên cô đi?" "Không, tôi sẽ bị đánh". "Những người hầu gọi tên cô thế nào?" "Họ thường gọi tên tôi là Ruthven". "Nhưng khi cô có mặt tại đây, họ gọi cô thế nào?" "Họ thường chỉ gọi tôi bằng chữ 'Thưa Cô' ". "Cô nào? Tên thánh của cô là ǵ?" "Tôi không thể nói được". "Nhưng cô biết phải không?" "Phải". "Chữ đầu tiên của tên cô là ǵ? Cô hăy đánh vần chữ đầu tiên tên cô đi?" "Tôi sẽ bị trừng phạt". "Cô đâu có bị trừng phạt khi nói tên của ḿnh. "Cô muốn t́m cái nhẫn phải không? C̣n t́m cái ǵ nữa không?" "Không". "Nếu tôi hỏi cô một câu, cô có hứa là trả lời tôi thành thực không?" "Được". "Cô có phải là Beatrix không?" "Tôi không nói được". "Cô phải nói phải hay không phải". "Tôi sẽ bị trừng phạt". "Cô sẽ không bị trừng phạt v́ cô có nói tên cho tôi biết đâu? Cô chỉ trả lời đúng hay sai mà thôi. Nếu cô nói là đúng, đó là sự thật, mà nếu cô nói là sai th́ cũng là sự thật vậy, c̣n như nếu cô không nói sự thực th́ chính cô đă bội thệ và cô sẽ bị đọa xuống địa ngục. Cho nên tốt hơn là cô nên nói sự thực. Lần này là lần thứ ba cũng là lần cuối cùng tôi hỏi có phải cô là Beatrix không?" "Phải". "Bây giờ tôi để cô đi và tôi sẽ để ư đến chuyện đó càng sớm càng tốt để cô có thể trở về nh́n thấy nơi mà cô ưa thích" "Vâng". "Chúc cô lên đường b́nh an". Sau khi Pamela tỉnh dậy, Pamela không nhớ một tư ǵ về cuộc thôi miên này. Tôi hỏi Pamela v́ đâu mà lại đặt tên là Pamela. "Mẹ tôi không muốn tôi có một tên trùng với bất cứ người nào trong gia đ́nh. Mẹ tôi xem báo, thấy có một cô gái tên là Pamela sắp thành hôn, nên mẹ tôi đă lấy tên này để đặt cho tôi". "Bây giờ tôi đọc vài cái tên phụ nữ, cái tên nào thấy quen quen hoặc cần chú ư, th́ Pamela cho tôi biết". ""Dorothy hay Dorothea?" ""Bà ngoại của tôi tên là Dorothy". "Cô có thích tên này không?" "Cũng được". "Thế nào về tên Barbara?" "Không". "Thế nào về Beatrix?" "Tên này rất dẹp, tôi thích tên này". "Cô thích tên này hơn tất cả tên khác phải không?" "Phải, nếu mọi người tôi là Bea, tôi cũng không cần để ư đến cách gọi này." Những ǵ tôi thâu lượm được qua cuộc thôi miên thật là kỳ thú. Bây giờ tôi hiểu chữ "Handsel" là cái nhẫn. Với thiếu nữ, cái nhẫn này rất quư v́ là của người yêu tặng cho cô. Tôi biết rằng cô ta không chịu nói tên, nên cách tốt nhất là nêu một vài tên. Mặc dầu tôi không coi việc t́m tên như là kết quả của một bằng chứng, nhưng qua nội dung của cuộc điều tra, cô ấy đă tỏ ra phản ứng với cái tên Beatrix hơn là các tên khác trong khi tôi nói với cùng một âm điệu. Một lúc sau, Pamela ngồi dậy và cùng uống cà phê với tôi. Đến đây tôi liền bóc cái thư mới nhất của Bà Elizabeth Byrd, nhận được ngày hôm qua ở Nữu Uớc. Kèm theo bản tin của nhà Quư Tộc Lyon Of Scotland chuyên phụ trách các đơn đ̣i tiền bồi hoàn các vũ khí của các gia đ́nh quư tộc. Bản tin như sau: "Người con gái có mệnh danh "Cái Nhảy Của Người Trinh Nù" tại Huntingtower tên là Dorothea. Cô này lấy ông John Vemyss ngày 8 tháng 6 năm 1609 tại Pittencrieff. Dorothea là người con thứ 13 song chưa phải là con Út, c̣n về tin tức của Barbara, người con thứ 14 là đứa con út trong gia đ́nh có thể t́m thấy tại trang 266 và 267 trong cuốn "Four Of the Scots Peerage". Báo cáo của Nhà Quư Tộc Lyon of Scotland đương nhiên là không đầy đủ chi tiết về những cô con gái của Bá Tước Gowrie. Một ư nghĩ thoáng qua trong đầu. Theo như "Cô" Gowrie nói đến cái nhảy của thiếu nữ có phải chính Pamela là thiếu nữ đă nhảy cái nhảy nổi tiếng đó không? Cũng có thể là một người con gái khác đă bị suy nhược và bị rớt trong khi đó có một thiếu nữ khác nữa đă nhảy thành công. Sau khi kiểm soát lại các dữ kiện mà người con gái gịng họ Gowrie nói cho tôi tại Chicago th́ là người đă bị ngă chết tại bờ thành lâu đài Gowrie không phải là cô gái đă nhảy thành công để đi t́m t́nh yêu, cho nên bằng chứng ở chỗ này có phần không rơ ràng. Trong cuốn The Fortified House In Scotland (Những Thành Quách của Tô Cách Lan) của Nigel Tranter có nói đến những bức tường thành, đến những lâu đài mà không nói đến huyền thoại về cái nhảy của một thiếu nữ; do đó tôi nghĩ rằng "Cái Nhảy của Người Trinh Nù" đă không được mấy phổ thông. Trước khi chia tay Pamela, tôi nói cô hăy lưu ư đến tất cả các việc xảy ra sau cuộc thí nghiệm thôi miên và yêu cầu cô cố gắng ghi nhớ sau này sợ rằng có thể cuộc thôi miên có hậu quả làm trí nhớ bị kích động. Bốn ngày sau tôi có nhận được một lá thư của Pamela. Bấy giờ tôi có nói cho cô biết là những kư ức của cô về Tô Cách Lan đă được các nhà chuyên viên xác nhận là đúng, và kiếp trước cô là một trong những người con gái của Bá Tước Gowrie. V́ vậy những sự cô đă biết không c̣n giá trị thực tiễn nữa. Thư của cô như sau: "Tôi không biết sự việc này có giá trị hay không, nhưng tôi cảm thấy cần phải cho ông biết. Vào khoảng 2 giờ 30 sáng, tôi tỉnh dậy v́ một giấc mơ, giấc mơ như thật đối với tôi. Trong giấc mơ tôi thấy tôi đang cuỡi ngựa đi đến một nơi mà tôi không biết nhưng cảm thấy quen quen. Cho ngựa chạy chừng 40 dậm, tôi dừng lại buộc ngựa vào một cái cây. Tôi bắt đầu đi bộ, h́nh như đây là một thung lũng nhưng có nhiều cây. Tôi nh́n thấy núi bao quanh. Trong lúc tôi đi bộ, có nhiều gai hay cái ǵ đó nhọn đă đâm vào chân tôi. Tôi lại gần một con sông và bắt đầu chạy. Rồi tôi thấy tôi nằm trên giường. Điều làm tôi sợ là chân tôi hầu như bị báng rất đau đớn. Sau đó tôi tỉnh dậy v́ những tiếng kêu than khủng khiếp mà tôi nghĩ là các tiếng động này có thể làm cho cả lối xóm thức dậy. Có hai chữ đă in sâu vào tâm trí tôi. Một chữ là Dab hay là Daba. Tôi không biết chữ này từ đâu đến, nhưng h́nh như chữ này làm cho tôi khó chịu. C̣n chữ thứ hai là "Beitris", chữ này tôi thấy rất rơ trên trần nhà đêm qua khi các đèn trong pḥng đă tắt cả. Tôi không hiểu các việc trên có nghĩa ǵ không, song tôi cứ viết thư cho ông" Tôi cũng không hiểu những chữ trên đây nên tôi đă nhờ Bà Elizabeth Byrd t́m hộ trong cuốn tự điển Jamison's English-Scottish. Dadown có nghĩa là rơi xuống rất mạnh với tiếng dộng. Có thể là ám chỉ cái ngă tàn khốc của người con gái nhảy từ bờ tường lâu đài Gowrie nhưng cũng có chữ Dablet có nghĩa là con quỷ hay con yêu tinh nhỏ. Không biết có phải là Bà Alanna Knight đă mô tả người thiếu nữ này khi Bà nh́n thấy trong ảo giác không? Đầu tháng 11, Pamela lại thấy một giấc mơ khác nữa. H́nh ảnh trong giấc mơ thấy hai lần đă in sâu vào trí nhớ của cô và cô hơi lo lắng về lời dặn ḍ như sau: "Ngươi sẽ bị chết bởi Newa Vleen", cô gái nói trong giấc mơ. Pamela tự hỏi ai sẽ chết - cô gái có mái tóc đỏ hay là chính cô - và Newa Vleen có nghĩa ǵ? Ngày 30 Tháng 4 Năm 1972, tôi nhận được một lá thư của Bà A. McDougall, Bà này sống tại Perth, Tô Cách Lan đă soi sáng cho những lời khai của Pamela: "Người ái nữ đề cập chính là ái nữ của Bá Tước Ruthven IV được phong hiệu Bá Tước Gowrie sau khi ông cùng với Nam Tước Lindsay tháp tùng Hoàng Hậu Mary tới Loch Leven và đă lấy danh nghĩa của Hoàng Hậu thành lập một uỷ ban để lật đổ chính phủ. Người thiếu nữ trẻ tuổi đă làm bước nhảy nổi tiếng thời ấy, bỏ gia đ́nh, đi theo người yêu là Địa Chủ James Vemyss tại Pittencrieff là nơi tiếp cận với Loch Katrine ở Trossachs. Chữ Newavleen có nguồn gốc từ chữ Jacobite mà bây giờ gọi là Gaelic. Tôi đă tra cứu trong sách vở và đi đến kết luận là Tô Cách Lan không có địa danh Newav. Nieve rất có thể đọc là Newav ở Tô Cách Lan có nghĩa là nắm tay. Linn nghĩa là chỗ thắt lại của gịng nước lỡ hay một thác nước và được đọc là Leen. Đó là nghĩa chữ Newavleen. C̣n về câu trích dẫn "Thà là để trẻ khóc c̣n hơn là để người già phải khóc", đó là câu tuyên bố của một lănh chúa ở Glamis trước mặt Vua James VI, câu này nổi tiếng trong Lịch Sử Tô Cách Lan v́ Nam Tước Ruthven nổi lên tấn công bất ngờ. Bá Tước Gowrie cùng một số hầu tước đă sắp xếp một kế hoạch để giải thoát Vua James VI - khi nhà Vua c̣n nhỏ tuổi - ra khỏi đám cận thần vô dụng. Sau cuộc đi săn ở Athol trên đường về, nhà Vua bị bắt đưa về lâu đài Ruthven. Lúc sắp sửa khởi hành, nhà Vua bị những nhà Quư tộc chận đường tŕnh lên một bản kiến nghị bầy tỏ ḷng phẫn uất của họ. Nhà Vua đă cố tự ḿnh giải thoát khỏi sự câu thúc của họ rồi bật khóc. Vị lănh chúa Glamis (cầm đầu cuộc bắt giữ nhà Vua) đă nhận xét là "Thà để trẻ con khóc c̣n hơn là để người già phải khóc". Các nhà quư phái đă mang nhà Vua đi nhưng nhà Vua trốn thoát và lại t́m về với Bá Tước Arran. Mặc dầu nhà Vua có thông qua một đạo luật ân xá cho những nhà quư phái dính líu đến việc bắt giam nhà Vua, nhưng sau đó trong một phiên ṭa trá h́nh tại Stirling, Vua đă kết tội âm mưu làm phản, đă lên án tử h́nh Bá Tước Gowrie. Ngày 21 Tháng Ba Năm 1970, Pamela báo cáo một "bộc phát bất ngờ" về cô gái Tô Cách Lan. Cô thiếu nữ này lại nói nữa. Tôi muốn cho ông biết vài tên mà tôi không biết là chính cô thiếu nữ ấy nói ra hay tự tôi đă tưởng tượng. Những tên này là: Lord Patrick, Bá Tước William, Bá Tước Hom. Rồi Saint John's Stone và Black Pike có nghĩa ǵ không? Và thiếu nữ đó cũng nói về làm một cái ǵ vinh danh cho Hoàng Hậu. Với Pamela cho đến nay, tôi chưa hề cho cô biết về tiền thân của cô ngoại trừ các việc có liên quan đến Tô Cách Lan mà thôi, cho nên tôi rất thích thú với tin tức này. Tôi đă liên lạc với các bạn tôi ở Aberdeen để sưu tra. Sử Gia C.I.A. Ritchie, trong một bức thư đề ngày 14 Tháng 4 năm 1970 đă báo cho Bà Elizabeth như sau: Bá Tước William có lẽ là Bá Tước William of Douglas bị Vua James giết chết. Bá Tước Hom là Bá Tước Hume hay Home. Bá Tước đầu tiên gịng họ Home 1566-1619. Nam Tước Patrick tức Nam Tước Gowrie III là phụ thân của Bá Tước Gowrie. Saint John's Stone tức St Johnstone, địa danh của Perth. Alanna Knight và chồng Bà đă khám phá ra tên Thị Xă của Perth là St John's Town, thị xă này cách xa Hintingtower 2 dậm. Qua Tiến Sĩ Margaret Steward, nhà khảo cổ sống tại Perth, Ông Bà Knight cũng khám phá ra chữ "Black Pike" có thể là chữ "Black Park", một miếng đất có ṭa lâu đài cổ ở cách Huntingtower chừng 4 dậm về phía bắc. Không phải để nhấn mạnh quan điểm của tôi, nhưng làm sao một người con gái 20 tuổi với tŕnh độ học vấn trung học, một công nhân bệnh viện ở Illinois, Hoa Kỳ lại có thể biết được rơ ràng từng chi tiết của một nơi hẻo lánh nhỏ bé tại Tô Cách Lan trừ phi chính cô đă sống tại đó trước kia?
__________________
Helping the Children ! Support the Children ! Remember SCVNLive . SCVNLive : GO and GO ----------------------- Thank you . |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
|
|
Similar Threads
|
||||
| Thread | Thread Starter | Forum | Replies | Last Post |
| Bảo hiểm y tế : những điều cần biết. | Tuucuong | Y-Học phổ thông / Common Medicine | 0 | 04-02-2010 10:22 PM |
| Câu chuyện ngụ ngôn về những giá trị của cuộc sống | Tuucuong | Văn Hóa - Văn Học Xă Hội / Culture - Social Literature | 0 | 01-09-2010 11:15 AM |
| Bóng Đè | anle | Trai & Gái / Men and Women | 0 | 01-20-2009 03:06 PM |
| Chân Dung Phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại | Tuucuong | Tin Hải Ngoại / World news | 0 | 06-28-2008 09:34 AM |
| Kỳ Bí: Mỹ Nhân Ngư Có Thật? | vkguy | Góc Nhỏ Giao Lưu / Small exchange conner | 0 | 05-15-2008 02:07 PM |